Tin Mới nhất:
  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


TIN GIÁO HỘI

Các nhà phân tích đánh giá thấp cuộc gặp gỡ của Đức Giáo Hoàng với ông Obama

'Kết quả rất ít hoặc chẳng có gì' đó là ý kiến của các nhà phân tích

Sáng ngày 27 tại Vatican, Tổng thống Obama rất vui mừng về cuộc họp đầu tiên của mình với Đức Thánh Cha Phan-xi-cô. Như tờ New York Times đưa tin, Đức Thánh Cha và Tổng thống gặp nhau trong thư viện của Giáo hoàng và nói chuyện trong khoảng 52 phút. Không có nội dung chi tiết nào của cuộc gặp gỡ được tiết lộ.

Russel Shaw chuyên gia và là người phụ trách chuyên mục cung cấp thông tin tờ Aleteia nói về cuộc gặp gỡ này:

Quá nhiều điều diễn ra trong cuộc gặp gỡ này. Tôi cho rằng đây là điều thu hút không ngừng của các phương tiện truyền thông với Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô. Nhưng trong suốt thời gian cuộc gặp gỡ của cả hai người cùng với các nhà lãnh đạo thế giới khác không có kết quả gì nhiều. Hay nói cách khác, cuộc gặp gỡ này cũng sẽ chẳng đưa lại kết quả gì. Đức Thánh Cha và Tổng thống vẫn tiếp tục đồng ý về vấn đề nghèo đói, nhưng không đồng ý về việc phá thai, và chỉ có thế. Tôi vui vì họ đã ngồi lại với nhau – đó là một điều tốt đẹp nên làm – nhưng kết quả sẽ ít hoặc không có gì thay đổi.

Edward Mulholland chuyên gia tờ Aleteia, giáo sư phụ tá ngôn ngữ cổ điển Đại học Benedic ở Atchison, Kansas, đưa ra một phản ánh tương tự :

“Chúng ta có xu hướng quên rằng công việc của Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô là mở ra con đường vượt xa hơn cả nước Mỹ. Nếu bạn đọc các bài báo về các cuộc gặp gỡ của ngài với các nhà lãnh đạo thế giới, bạn sẽ thấy rằng chúng khá chuẩn. Tuy nhiên, tất cả chúng chủ yếu bao hàm một cuộc thảo luận về tự do tôn giáo. Tôi hy vọng Tổng thống Obama nói chuyện một cách kính trọng và cởi mở với Đức Thánh Cha. Nếu họ có một bất đồng lớn (không giống trong cuộc gặp đầu tiên) chúng ta có thể sẽ không được biết một cách chính thức về điều đó.”

Và John Zmirak, chuyên gia và là người đóng góp thường xuyên cho tờ Aleteia, hy vọng rằng cuộc gặp gỡ này truyền cảm hứng cho Tổng thống Obama suy tư về các nguồn gốc căn cốt của những thất bại trong nhiệm kỳ tổng thống của mình:

“Sau sáu năm thấy ông ấy vùng vẫy, trầy trụa với những khát vọng mãnh liệt của mình chống lại chông gai của thế giới thực, không ai đặt nhiều “hy vọng” vào Tổng thống Obama, và không ai sợ ông ấy sẽ ảnh hưởng nhiều về “sự thay đổi” nữa. Thay vào đó chúng ta lần lần cảm thấy bực tức, hài hước, thậm chí thương hại cho ông ta. Hầu hết thời gian, ông ta có biểu hiện xấu hổ, giống như những ai tôi nhìn thấy ở phòng khám thú y nắm chặt vật cưng với rất nhiều thương tích.

“Nói cách khác, ông Obama là hiện thân hoàn hảo của sự thảm bại vô vọng, hiện thân của người có cái nhìn bài Cơ đốc giáo, nỗ lực làm cho trái đất trở thành thiên đường của những khoảnh khắc hạnh phúc dành cho con người. Và Đức Thánh Cha Phan-xi-cô chỉ là người giúp ông ta lấy lại tất cả những mảnh vỡ nhỏ, giá trị đó.

“Nếu như có bất cứ một động cơ tôn giáo thực sự đằng sau lời ngọt ngào của ông Obama với các nhà hoạt động công bằng xã hội Công giáo, có lẽ cuộc gặp gỡ với “Người” mà linh đạo của ngài bao gồm niềm hy vọng thực sự cho sự thay đổi vĩnh viễn sẽ mang lại cho cuộc sống một tia sáng nhỏ – và nhắc nhở Tổng thống rằng công lý và bình đẳng chỉ trở nên vấn đề nếu bản thân con người là vấn đề, và nếu con người không chỉ là một loài linh trưởng cấp cao tìm kiếm sự thỏa mãn bản năng. Bằng chứng con người đích thực đó chỉ có thể tìm thấy trên Thập giá.”

 

Nguồn: Aleteia.org

 

Đức Phan-xi-cô nghênh đón Tổng thống Barrack Obama đến Rôma

Bất bình đẳng trên thế giới nằm đầu nghị trình thảo luận

Tổng thống Barrack Obama có cuộc hội kiến lịch sử đầu tiên với Đức Thánh cha Phan-xi-cô hôm thứ Năm. Hai bên thảo luận một nghị trình chung về chống bất bình đẳng trên thế giới mặc dù có những bất đồng lớn về những vấn đề như quyền của người đồng tính và biện pháp tránh thai.

Ông Obama phát biểu với Đức Phan-xi-cô rằng ông “hết sức thán phục” vào lúc bắt đầu cuộc hội đàm tại Vatican, theo các nhà quan sát chính trị đây có thể là nỗ lực giành sự ủng hộ từ phía cử tri Công giáo trong nước của tổng thống Mỹ.

Tháp tùng ông Obama có Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và phái đoàn được Đội cận vệ Thụy Sĩ và các viên chức phụ giúp tiếp đón khách của Đức Thánh Cha dẫn đi qua Điện Tông Tòa đến phòng đọc sách của ngài.

Tổng thống Mỹ gốc châu Phi đầu tiên nói Đức Giáo Hoàng đầu tiên đến từ Mỹ Latinh là “nguồn cảm hứng” trong cuộc phỏng vấn với tờ nhật báo Corriere della Sera.

“Đức Thánh Cha là nguồn cảm hứng cho nhiều người trên thế giới trong đó có tôi”, ông Obama nói và thêm rằng tuy nhiên “Điều đó không có nghĩa là chúng tôi nhất trí về mọi vấn đề”.

Cuộc hội kiến là bước ngoặt đáng nhớ đối với ông Obama trong chuyến công du châu Âu dài sáu ngày dưới sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Crimea, và chắc chắn lãnh đạo Mỹ hy vọng sẽ có những tác động tích cực sau cuộc hội đàm với vị giáo hoàng được nhiều người yêu mến này.

Ông Obama “chủ yếu muốn tranh thủ hào quang của Đức tân Giáo hoàng, theo tôi nghĩ”, Jeremy Shapiro, thỉnh giảng viên tại Viện Brookings Washington, phát biểu.

Mục đích chính của ông là “nhấn mạnh cả hai người đều chú ý đến vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng. Đây thật sự không phải là giai đoạn dành cho chính sách ngoại giao”, ông nói.

Trước khi diễn ra cuộc hội kiến, Đức Phan-xi-cô dâng Thánh lễ cho một nhóm 500 chính trị gia người Ý, trong Thánh lễ ngài cảnh báo họ đừng “nhẫn tâm” và “tham nhũng”.

Ông Obama còn hội kiến Thủ tướng Ý Matteo Renzi, lãnh đạo chính phủ trẻ nhất của Liên Minh Châu Âu, và Tổng thống Giorgio Napolitano, và tham quan khu đấu trường Colosseum.

Quan hệ ngoại giao giữa Ý và Mỹ thân mật, mặc dù Rôma thận trọng về việc áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Nga về cuộc khủng hoảng ở Ukraine, giữa lúc xảy ra lo sợ việc này sẽ gây thiệt hại cho thị trường chính.

Trong cuộc phỏng vấn, ông Obama nhấn mạnh “vai trò then chốt” của Ý trong khu vực Địa Trung Hải, khen ngợi ông Renzi đã viếng thăm Tunisia trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên và nói Washington và Rôma đang cộng tác tái thiết Libi.

Ông Obama nói hồi đầu tháng này rằng việc ông kêu gọi tăng thuế đối với người giàu và ngăn chặn các vụ lạm dụng của các ngân hàng lớn có nền tảng đạo đức vững chắc, đòn đánh vào đảng Cộng hòa trong năm bầu cử và lặp lại lời Đức Thánh Cha kêu gọi hành động chống gia tăng bất bình đẳng trên thế giới.

Tuy nhiên, các chuyên gia Vatican nói quan hệ hai bên không thân thiện như trước đây giữa Đức Thánh cha Gioan Phaolô II và Tổng thống Ronald Reagan, và không chắc gì Đức Phan-xi-cô sẽ không thảo luận với ông Obama về chính sách nội địa và ngoại giao.

Chuyên gia Vatican John Allen viết trên tờ The Boston Globe rằng chính quyền Obama muốn gây “ấn tượng về một đại đồng minh đại diện người nghèo trên thế giới … vừa là phần di sản cuối cùng của mình vừa nhắm hướng tới các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào mùa thu này”.

Tuy nhiên ông chỉ rõ “những tương phản” và “bất đồng rõ ràng” và nói “quan hệ sâu đậm” giữa hai nhà lãnh đạo … có khả năng không xảy ra”.

Đức Thánh Cha lớn tiếng mạnh mẽ chống đề xuất can thiệp quân sự của Mỹ ở Syria năm ngoái, và đã tổ chức canh thức cầu nguyện chung tại Vatican.

Các lãnh đạo Công giáo Mỹ cũng đã nhiều lần thách thức việc thực thi Luật Chăm sóc y tế với giá phải chăng của ông Obama, và lập luận rằng luật này vi phạm quyền tự do tôn giáo bằng cách yêu cầu các tập đoàn kiếm lời đóng bảo hiểm tránh thai.

Tranh cãi xung quanh Luật Chăm sóc sức khỏe với giá phải chăng và số người ủng hộ ông Obama giảm có nguy cơ dẫn đến đảng Cộng hòa giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Thượng viện sắp tới, điều này sẽ làm lãnh đạo Mỹ suy yếu đáng kể trong hai năm nắm quyền còn lại.

Những lời ủng hộ của Đức Phan-xi-cô chắc chắn sẽ cải thiện được tình hình của ông: khảo sát của đại học Saint-Leo cho thấy Đức Phan-xi-cô được 85% người Công giáo và 63% người Mỹ yêu mến.

 

Trong khi đó kết quả thăm dò do CBS News và tờ New York Times phát hành tháng trước cho thấy chỉ có 41% ủng hộ ông Obama. AFP

Ukraine: Giáo Hội Hy Lạp hành hương đến Rôma nhân dịp kỷ niệm 150 năm phong thánh cho Đức Cha Josaphat Koncevitch

Giáo hội Hy Lạp-Ucraina sẽ có chuyến hành hương tới Rôma vào ngày 25 tháng 06 năm 2017, nhân dịp kỷ niệm 150 năm phong thánh cho Đức Cha Josaphat Koncevitch (1584-1623), ngài là vị Giám mục tử đạo.

Thi thể của vị thánh tử đạo đầu tiên của Giáo hội Công giáo Hy Lạp-Ucraina vẫn còn được cung kính tại Đền Thờ Thánh Phêrô. Hai tuần trước, cơ quan Công giáo Ý - SIR cho biết, nhân dịp cử hành ngày kỷ niệm này, Đức Thánh Cha Phanxicô cho phép những người tham dự cuộc hành hương được cử hành Phụng vụ Thánh tại bàn thờ trong Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô ở Vatican.

Trước đó, sự kiện này sẽ khai mạc vào ngày 24 tháng 06 tại nhà thờ Thánh Sophia ở thành phố Vĩnh cửu, với sự chủ tế của Đức Thượng Phụ Sviatoslav Shevchuk, Tổng Giám mục Kiev, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Hy Lạp-Ukraine. Sau đó, một buổi hòa nhạc sẽ diễn ra với dàn hợp xướng của các Chủng sinh của Học viện Thần học Ivano-Frankivsk.

Vào Chủ Nhật, 25 tháng 06, ngoài Thánh lễ lúc 13 giờ 00, những người hành hương sẽ tham dự đọc Kinh Truyền Tin với Đức Giáo hoàng Phanxicô vào buổi trưa ở Quảng trường Thánh Phêrô. Theo SIR, ban tổ chức mời những người Ukraine đang sinh sống ở trong nước và hải ngoại "tham gia vào cuộc hành hương đến các di tích của Vị tử đạo Josaphat, vì sự hiệp nhất của Giáo Hội và của những người Kitô hữu".

Vị bảo trợ của người Công giáo Ucraina, Josaphat Koncevitch, Giám mục của Polatsk đã cống hiến cho sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa Giáo và Chính Thống Giáo. Ngài bị giết bởi những người chống đối sự thống nhất, và được Đức Giáo Hoàng Piô IX phong thánh vào năm 1867.

Ban Thông Tin chuyển ngữ

Đức Thánh Cha nói: 'Chúng ta là những tội nhân, nhưng Chúa Giêsu có thể biến đổi chúng ta'

"Tất cả chúng ta đều là những tội nhân bất xứng, thiếu vắng tình thương của Thiên Chúa, vậy ai có quyền năng để biến đổi và ban cho chúng ta sự hy vọng mỗi ngày."

Đó là điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh trong suốt cuộc tiếp kiến chung hàng tuần của ngài tại Sảnh đường Phaolô VI, vào ngày 9 tháng 8 năm 2017. Trong suốt thời gian vừa qua, đây là lần tiếp kiến thứ hai kể từ khi kết thúc kỳ nghỉ vào tháng 7 hàng năm, Đức Phanxicô tiếp tục các bài giáo lý nói về niềm hy vọng Kitô giáo, diễn tả lòng thương xót Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh và mời gọi những người hiện diện hãy nhìn lại trong Tin mừng, Chúa Giêsu đã bày tỏ lòng thương xót của ngài như thế nào, và bao nhiêu lần chúng ta gặp thấy những sự đáp trả như thế. Đức Phanxicô nhắc nhớ rằng, từ khi bắt đầu sứ vụ của Ngài tại xứ Ga-li-lê, Đức Giêsu đã tiếp cận nhiều người phong cùi, người bệnh tật và người bị gạt ra bên lề.

Ước muốn cho con tim được tự do

"Con Thiên Chúa vượt lên trên tất cả để tha thứ tội lỗi cho con người, vì ngài muốn giải thoát dứt khoát để cho con tim của con người được tự do hoàn toàn.”

Lòng thương xót là thái độ đặc trưng của Kitô giáo, qua đó, Đức Thánh Cha đã nói rằng: "Nơi nào có một người đau khổ, Chúa Giêsu luôn quan tâm đến họ, và biến đau khổ của họ trở thành của Ngài."

"Trái tim của Chúa Kitô chính là hiện thân và diễn tả chính trái tim của Thiên Chúa, Ngài muốn chữa bệnh, giải thoát, sống trọn vẹn cho bất cứ ai đang gặp phải những đau khổ trong cuộc đời của họ."

"Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu mở cánh tay của ngài cho những kẻ tội lỗi."

Đức Thánh Cha nói, thật đáng tiếc khi ngày nay vẫn còn nhiều người lạc lối trong cuộc sống sai lầm, vì họ không tìm thấy bất cứ ai có thể nhìn thấy cuộc sống của họ bằng đôi mắt và trái tim của Thiên Chúa.

Mặt khác, Đức Thánh còn nhấn mạnh, Chúa Giêsu nhìn thấy một khả năng hồi sinh nơi con người, ngay cả với những người vẫn còn tồn tại những quyết định và lựa chọn sai trái.

Tình yêu đem lại cuộc sống mới

Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng, "Chúa Giêsu làm nhiều hơn những gì chúng ta nghĩ. Ngài đem lại cho những người đã đánh mất niềm hy vọng một cuộc sống mới, một cuộc sống được đánh dấu bằng tình yêu".

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng lưu tâm rằng, Giáo Hội được tạo nên từ những tội nhân có kinh nghiệm lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa.

"Tất cả chúng ta đều là những tội nhân bất xứng, thiếu vắng tình thương của Thiên Chúa, vậy ai có quyền năng để biến đổi chúng ta và ban cho chúng ta hy vọng mỗi ngày."

Một chân lý nền tảng mà ai cũng cần phải biết: "Thiên Chúa đã trao ban một sứ mệnh cao đẹp trong thế giới, chính là tình yêu dành cho anh chị em, và công bố lòng thương xót của Ngài cho tất cả mọi người, không loại trừ bất cứ ai", Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói.

Ban Thông Tin chuyển ngữ

Hỏi Đáp Phụng Vụ: Soạn Luật Phụng Vụ

(Ngày 9 tháng 5 năm 2017) – Trả lời của cha Edward McNamara, dòng Đạo Binh Chúa Kitô, Giáo sư Phụng vụ và Khoa Trưởng Thần học của Đại học Nữ vương các Thánh Tông đồ.

Hỏi: Trước đây, tôi làm việc như là một nhân viên phụng vụ, và rồi tiếp tục tình nguyện làm công tác đào tạo các em giúp lễ, rồi đóng vai trò trưởng nghi trong các Thánh lễ của Giám mục. Theo kinh nghiệm của tôi, tôi thấy khá khó khăn trong việc định hướng các nguồn trong luật phụng vụ, bởi lẽ có quá nhiều các văn bản khác nhau. Tôi biết rằng, có Bộ Giáo Luật, nhưng mục đích của nó không phải nhằm giải thích luật phụng vụ. Gần đây có nỗ lực và cố gắng nào nhằm soạn thảo luật phụng vụ thành một bộ tổng hợp không? Giáo luật cho phép người đời quyền hợp pháp và hợp lý trong phụng vụ, và dường như là Luật phụng vụ được soạn thảo sẽ góp phần bảo đảm quyền đó, cũng như sẽ ngăn ngừa những lạm dụng luôn xẩy ra trong phụng vụ. (J. M., Michigan)

Trả lời: Trong phần trả lời này, chúng tôi lược lại một số tài liệu đã sử dụng từ năm 2008. Mặc dù giáo luật lần đầu tiên được hệ thống hóa vào năm 1917, nhưng ấn bản này cũng phản ánh cả một truyền thống hợp pháp lâu dài cắm rễ trong luật Rôma.

Vì vậy, các chuyên viên luật đã có thể kín múc từ suối nguồn sâu xa của những giải thích truyền thống nhằm khẳng định các ý nghĩa của luật. Hầu hết các luật sư đều khẳng định rằng, các nghi ngờ về ý nghĩa khách quan của luật thì khá hiếm.

Tuy nhiên, nó cũng vẫn xẩy ra và thường được làm rõ với thời gian bởi cấp có thẩm quyền giải thích chính thức, rồi phổ biến và phát hành, rồi luật mới sẽ làm rõ câu hỏi nào cần thiết, hay là trong sự phát triển của tín lý giáo luật cho tới khi có sự đồng thuận trong những người thực hiện.

Tòa Thánh có một cơ quan đặc biệt và có thẩm quyền nhằm giải thích các luật. Quyết định đầu tiên của cơ quan này là về giáo luật 1983 liên quan tới ý nghĩa của từ “interim” (có thể có nghĩa là “lại” hay là “lần thứ hai”), ở giáo luật khoản 917 đề cập tới việc Hiệp lễ. Quyết định có nghĩa là “lần thứ hai”, tức là nhắm tới việc một người có thể Hiệp lễ mấy lần trong ngày.

Hầu hết những phần chính yếu của luật phụng vụ nằm ngoài bộ Giáo luật, và chưa được tổng hợp hoàn chỉnh vào trong một ấn bản. Và vì sự phức tạp và đa dạng của tình huống, nên không dễ dàng gì có thể hệ thống hóa mau lẹ.

Trong luật phụng vụ, chúng ta phải phân biệt giữa những luật có thể áp dụng cho những hình thức bình thường và ngoại thường trong nghi lễ Rôma. Các nghi thức trong hình thức ngoại thường thì được xác định một cách rất kỹ càng.

Trải qua bốn thế kỷ, nghi lễ Rôma đã hình thành một hệ thống luật pháp được tổng hợp trong những bộ sách có thẩm quyền do Bộ Nghi lễ trước đây. May mắn thay, hàng loạt sách này về những luật phức tạp luôn được các học giả cần mẫn nghiên cứu và cho ra những sổ tay miêu tả để cho các linh mục cũng như thừa tác viên nghi lễ sử dụng. Hai cuốn tuyệt vời đã được phát hành đó là: A. Fortescue và J.B. O’Connell “Diễn Tả Các Nghi Thức Trong Nghi Lễ Rôma,” được cha Alcuin Reid, O.S.B. cập nhật, và ấn bản Tiếng Ý “Compendio di Liturgia” của L. trimelloni thì hoàn chỉnh hơn.

Việc hệ thống hóa và giải thích các quy luật hình thức bình thường xẩy ra một số trường hợp khó khăn đặc thù. Nghi lễ còn khá mới (tối thiểu liên quan tới luật chữ đỏ), có nghĩa là có một chút trong tiến trình của lịch sử hệ thống luật pháp đã có thể làm rõ bất cứ những nghi ngờ gì.

Một khó khăn khác nữa đó là hàng loạt những sách phụng vụ khác nhau, vậy đâu là những nguồn quan trọng nhất của luật phụng vụ. Có một số được cập nhật để người ta có thể chắc chắn có những ấn bản mới nhất trong từng nghi thức, và chúng cũng có thể được sửa đổi từ những quy định cũ dưới ánh sáng của kinh nghiệm thực tế.

Một khó khăn nữa là trong những luật chữ đỏ tổng quát thường cố ý tránh những sự miêu tả chi tiết về các nghi thức vì thế để ngỏ một mức độ mềm dẻo nào đó. Ví dụ như là, cả hình thức ngoại thường và thông thường chỉ ra rằng, linh mục cầu nguyện với hai tay dang ra, trong hình thức ngoại thường có miêu tả khá chi tiết, nhưng trong trường hợp thông thường thì lại để cho người cử hành tự do quyết định. Quả thật, sự diễn tả chính xác nhất được tìm thấy trong Nghi lễ Giám mục số 104. Nhưng sự kiện là không phải ở phòng áo nào cũng có cuốn sách này, sự diễn tả thì không luôn luôn đi vào chi tiết, chỉ nói rằng hai tay “hơi giơ lên và dang ra” và rồi trích dẫn câu nói của Tetuleian nói rằng, cử chỉ này bắt chước Đức Kitô chịu khổ hình.

Một yếu tố khác là sự kết hợp của những sự việc hợp pháp khác ngoài Tòa Thánh, như là những phong tục hợp pháp cũng như là từ các Hội đồng Giám mục. Các Hội đồng Giám mục có thể đề nghị những hội nhập đặc thù tùy theo quốc gia để xin chuẩn nhận từ Tòa Thánh trước khi trở thành luật đặc thù. Họ cũng có thể phát hành những văn bản khác như là những hướng dẫn về những câu hỏi nào đó trong phụng vụ, mà những vấn đề này không buộc thực hiện nghiêm ngặt, thì trong thực hành có thể coi như mang tính chất tham khảo.

Tương tự như vậy, sự hiện hữu của những bản dịch chính thức đôi khi cũng có thể làm cho việc giải thích gặp khó khăn, đặc biệt là khi các bản dịch khác nhau về ý nghĩa bản văn, thậm chí tại ngay những quốc gia sử dụng cùng loại ngôn ngữ. Không phải như là phụng vụ, giáo luật không có những bản dịch chính thức mà chỉ có bản Tiếng Latinh mới có thể phục vụ cho những mục đích hợp pháp.

Bất chấp những khó khăn này, việc giải thích phụng vụ cũng không phải là mơ hồ. Bộ Phụng tự và Bí Tích đôi khi thực hiện những việc giải thích chính thức về các bản văn phụng vụ.  Ví dụ, tuyên bố về số 299 của Hướng dẫn Tổng quát trong Sách Lễ Rôma, có khẳng định rằng, vị chủ tế quay về phía dân chúng là “đáng được mong đợi,” cũng đã không trở thành điều bắt buộc theo luật.

Gần đây, Bộ Phụng tự đã bắt đầu duyệt lại và phát hành những quyết định quan trọng trên trang của Vatican, mặc dù nó vẫn chưa hoàn chỉnh. Cũng có sáng kiến cá nhân rất hữu dụng đăng trên trang http://ipsissima-verba.org/ hầu như chứa đựng tất cả những điều liên quan trong 50 năm gần đây, và rất nhiều điều trên trang này thực hiện bằng ngôn ngữ Anh Văn.

Cũng có những “hướng dẫn” chính quy mà coi như là văn bản luật bắt buộc về những lãnh vực đặc biệt về phụng vụ. Ví dụ, gần đây có Liturgiam Authenticam là bản dịch của những văn bản, và rồi Redemptionis Sacramentum về các lạm dụng trong phụng vụ.

Nguồn khác nữa là duyệt xét việc sử dụng từ ngữ đặc thù nào xuyên qua các văn bản chính thức nhằm rút ra ý nghĩa tổng quát của nó. So sánh với luật dân sự, các quy luật phụng vụ tạo nên một nguồn còn khá nhỏ bé, và điều này làm cho các việc so sánh khá dễ dàng.

Cũng có những cuốn sách tham khảo rất tốt có thể giúp cho chúng ta có thể đi qua bãi lầy của luật phụng vụ. Ở một số quốc gia, các sách đã được in bao gồm nhiều tài liệu quan trọng, và cho phép nghiên cứu qua các bản phụ lục theo chủ để rất tốt – ví dụ, Enchiridion Liturgico bằng Tiếng Ý (1994), và bản Tiếng Anh bốn cuốn “Các Văn bản Phụng vụ” (ấn bản mới nhất năm 2012). Cũng có ấn bản cũ hơn, 1511 trang “Các Văn bản về Phụng vụ 1963 – 1979” (phát hành năm 1983).

Sự thật là có rất nhiều văn bản có sẵn trên mạng, nhưng chúng không có phụ lục theo chủ đề để có thể làm rõ tình trạng của câu hỏi.

Cũng có một số sổ tay phụng vụ cho hình thức thông thường, những sổ tay này đã được suy tư từ những luật lệ và đưa và những sự giải thích thực tế về việc cử hành.

Có lẽ hay nhất là ấn bản của Đức cha Peter J. Elliott “Các nghi thức của Nghi lễ Rôma hiện đại” (2004) và “Các Nghi thức của Năm Phụng vụ” (2002). Về Thánh Lễ, cũng có ấn bản hay “Chú giải về Hướng dẫn Tổng quát của Roman Missal” (2008). Có thể tôi phản đối một vài chỗ giải thích, nhưng cuốn sách này cũng là nguồn của GIRM và nó hỗ trợ lớn lao cho việc giải thích các yếu tố còn chưa rõ ràng.

Cuối cùng, không như luật dân sự, thật ra luật phụng vụ được đặt ra nhằm để mọi người có thể hiểu, và vì thế nó thật sự mang ý nghĩa như khi chúng ta đọc. Bởi đó, các linh mục, phó tế, các người lo phòng áo hay là những người làm việc trong phụng vụ phải lãnh hội sự cần thiết nào đó về luật để chuẩn bị Thánh Lễ.

Điều khó khăn trong luật phụng vụ không luôn luôn là vấn đề hiểu biết, nhưng là ở đức tin, lòng mến, cũng như là ý muốn để thực hiện nó.

 

Minh Tuấn, SDB chuyển ngữ

Đức Thánh Cha gửi đặc sứ đến Lễ kỷ niệm Bách chu niên Ngày sinh của Chân phước Oscar Romero

Đức Thánh Cha đã chọn Hồng y Ricardo Ezzati Andrello, SDB, Tổng Giám mục Giáo phận Santiago, Chile làm đặc sứ của ngài đến cử hành lễ kỷ niệm 100 ngày sinh của Chân phước Oscar Arnulfo Romero, dự định sẽ được tổ chức tại San Salvador, El Salvador vào ngày 15 tháng 08 năm 2017.

Thực thi sứ mệnh đó còn có Đức ông Rafael Edgardo Urrutia Herrera, Chưởng ấn của Tổng Giáo phận San Salvador, và là đại diện giám mục về các phong trào hiệp hội giáo dân; cha Reinaldo Sorto Martinez, chánh xứ Giáo xứ San Jose de la Montana, đại diện giám mục về chăm sóc mục vụ, và là giám đốc Đài phát thanh San Jose, sẽ đi cùng với ngài đặc sứ.

Trong một lá thư bằng tiếng Latinh, ngày 18 tháng 07 năm 2017, được Toà Thánh công bố vào ngày thứ Bảy, ngày 05 tháng 08 năm 2017 vừa qua, Đức Thánh Cha đã nói, ngài đã được mời tham dự lễ kỷ niệm đó, và đây là lý do để ngài gửi Hồng y Chilê đến đại diện.

Đức Thánh Cha đã tôn phong Chân phước Oscar Romero, "vị giám mục và vị tử đạo", đã sinh ra cách đây 100 năm, vào ngày 15 tháng 08 năm 1917 ở Ciudad Barrios, và bị sát hại vào ngày 24 tháng 03 năm 1980, khi ngài đang cử hành Thánh lễ tại Nhà nguyện Chúa Quan Phòng ở San Salvador.

Trong lá thư của mình, Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh, Chân phước Romero là một "nhà mục tử danh tiếng và là nhân chứng của Tin Mừng", một “người bảo vệ Giáo Hội và nhân phẩm con người”, người công bố “công cuộc cứu độ" của Chúa Kitô, được ngài biểu lộ với tình yêu dành cho mọi người, đặc biệt cho người nghèo, những người bị bỏ rơi và bị gạt ra bên lề, và để tìm cách thúc đẩy “hòa giải và hòa bình".

Đức cha Romero đã được phong chân phước tại San Salvador vào ngày 23 tháng 05 năm 2015, như một vị tử đạo, và sẽ được phong hiển thánh nếu một phép lạ xảy ra nhờ vào lời cầu bầu của ngài được chứng thực.

 

Ban Thông Tin chuyển ngữ

Hành hương đến Fatima, một thời gian để cầu nguyện, gặp gỡ Đức Giê-su và Mẹ Maria

LEIRIA, Portugal (CNS) – 13.05.2017 - Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cho biết cuộc hành hương 2 ngày của ngài đến Fatima là thời gian để cầu nguyện, gặp gỡ Đức Giê-su và Mẹ Maria.

Đức Thánh Cha nói với các phóng viên hiện diện trên chuyến bay từ Rô-ma ngày 12 tháng Năm rằng cuộc hành hương đến Đền thờ Fatima là “một thời gian đặc biệt. Đây là một hành trình cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa và Mẹ Rất Thánh”.

Cùng đi trên chuyến bay với Đức Thánh Cha có 69 phóng viên. Sau chuyến bay 3 tiếng đồng hồ, chuyên cơ của Đức Thánh Cha đã hạ cánh xuống sân bay Monte Real, cách Fatima khoảng 25 dặm.

Chuyến hành hương của Đức Thánh Cha đến Fatima cũng để đánh dấu biến cố kỷ niệm 100 năm việc Đức Maria hiện ra cho 3 em nhỏ chăn chiên tại Fatima.

Vào ngày kỷ niệm, tức ngày 13, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô sẽ phong thánh cho 2 trong số 3 thị nhân, gồm Chân phước Jacinta Marto và người anh là Chân phước Franciso Marto, qua đó họ trở trành những vị thánh không-tử-đạo trẻ tuổi nhất trong Giáo hội Công giáo.

Khi hạ cánh xuống phi trường quân sự, Đức Thánh Cha được Tổng Thống Bồ Đào Nha, ngài Marcelo Rebelo de Sousa, chào đón và sau đó có cuộc hội kiến riêng tại sân bay. Đức Thánh Cha cũng thăm viếng nhà nguyện tại sân bay và chúc lành cho những bệnh nhân của các gia đình binh sĩ.

Trước khi rời Vatican vào sáng hôm đó, Đức Thánh Cha đã gặp 6 người phụ nữ, những người đã phải “trải qua những thời điểm thật khó khăn” như Phát ngôn viên của Tòa Thánh, ông Greg Burke, đã nói. Hai trong số họ đang mang thai và là những người di dân. Tất cả họ đã mang theo con cái đến để gặp gỡ Đức Thánh Cha.

Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Pietro Parolin và cũng là người thân cận nhất của Đức Thánh Cha, đã phát biểu rằng cuộc hành hương của Đức Thánh Cha “diễn bày tình yêu và lòng tôn sùng Đức Maria” của ngài, đồng thời cũng tỏ ra sự tôn trọng đặc biệt đối với việc sùng kính Đức Maria của mọi người Công giáo ở khắp nơi trên thế giới.

Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Parolin đã phát biểu: Trong những lần hiện ra của Đức Maria tại Fatima cho 3 trẻ chăn chiên, Đức Thánh Cha nhìn ra đó là một dạng mẫu Đức Maria được diễn tả trong kinh Magnificat, một Thánh thi ca ngợi về những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đã làm qua Mẹ.

Tại Fatima, “Đức Mẹ Mân Côi đã hiện ra không cho những kẻ giầu có quyền thế, cũng không cho hạng người có thế lực, nhưng cho các trẻ em”. Các trẻ em này xuất thân từ những gia đình đơn sơ, và không có học, “tựa như những kẻ bé nhỏ nhất trong xã hội, hay nếu dùng theo lối nói của Đức Thánh Cha, là những kẻ “bị loại trừ” khỏi xã hội. Và Đức Maria muốn ban ân huệ cho hạng người này, muốn ban cho các trẻ nhỏ chăn chiên này một sứ điệp cho mọi nền văn hóa”.

Đức Hồng Y nói tiếp: Vào năm 1917, Thế Chiến I đã khởi sự, các bài diễn văn chất chứa những lời đầy thù hận, báo thù, chống đối. “Trái lại, Đức Maria lại nói về tình yêu, sự tha thứ, sự hy sinh và tận hiến bản thân. Đó thực sự trái ngược với  cả những giá trị, hay những phản-giá trị đang thống trị vào thời điểm đó”.

Hai bài học mà Đức Thánh Cha rút ra từ biến cố Fatima cho thế giới ngày nay thì thật sự cần thiết để biết trân quý các kẻ bé mọn nhất giữa các người anh em, chị em, đồng thời “để sống những giá trị đích thực vốn là nền tảng của sự chung sống hòa bình và liên đới trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau”.

Đức Giám Mục Antonio dos Santos Marto của Leiria-Fatima, cũng viết trong nhật báo Vatican rằng sứ điệp Fatima đã chạm đến tâm hồn của nhiều người trên khắp thế giới qua các thế hệ, vì sứ điệp này nói và tiếp tục nói về sự kiện cường niềm tin trong khi thế giới mà người ta sống lại thật nhiễu nhương.

Đức Giám mục nói tiếp: Sứ điệp của Đức Maria tại Fatima cho 3 đứa trẻ chăn chiên vào năm 1917 đã đề cập đến “2 cuộc chiến tranh thế giới và sự đau khổ của nhân loại, đặc biệt với những quốc gia như Liên Xô; cuộc bắt bớ Giáo hội với những vị tử đạo của thế kỷ 20 và về chính Đức Thánh Cha, cũng như nguyên do chính để mang lại hòa bình giữa các dân tộc.”

Đức Giám Mục Marto nói rằng: “Tất cả điều này cùng với lời cảnh báo rất mạnh mẽ đừng để mình rơi vào những tình trạng trên nếu như họ muốn mọi sự được bình thường” và đừng cho rằng sự xấu sẽ quyết định số phận của nhân loại. “Sự xấu sẽ bị đánh bại nhờ vào việc hoán cải tâm hồn để quay về với Thiên Chúa, biết cầu nguyện và sửa chữa những lỗi lầm của mình.”

 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ

Hỏi Đáp Phụng Vụ: Chén Thánh Nên Làm Bằng Chất Liệu Gì

(Ngày 27 tháng 6 năm 2017) – Cha Edward McNamara nói ưu tiên vẫn là những kim loại quý.

Trả lời của cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô, giáo sư Phụng vụ và Khoa trưởng Thần học Đại học Nữ Vương các Thánh Tông Đồ.

Hỏi: Ít năm trước đây, Vatican đã phát hành bản hướng dẫn liên quan tới các chất liệu phù hợp để làm chén thánh. Nói ngắn gọn, kim loại được phê chuẩn và những chất liệu dễ bể (bao gồm cả pha lê hay gốm sứ) đều bị cấm. Tuy nhiên, hầu như mọi giáo xứ tôi có dịp ghé thăm đang sử dụng các chén làm bằng pha lê hay là gốm sứ cho các thừa tác viên Thánh Thể ngoại thường cho giáo dân rước Máu Chúa, trong khi vị linh mục thì dùng chén bằng kim loại. Điều này có vẻ mâu thuẫn, hay ít nhất cũng là không kiên định. Tôi có dịp nói chuyện với một vài linh mục thì các vị cũng góp ý là luật này nên mềm dẻo hay là thay đổi. Một vị linh mục than phiền về giá cả mắc mỏ của chén kim loại, ngài cũng muốn sử dụng những chén bằng kim loại, nhưng hiện tại thì chưa thể. Và rồi, trong đời sống tại thế, Chúa chúng ta cũng đã sử dụng chén làm bằng đất trong Bữa Tiệc Ly, vì vậy có vẻ hơi lạ khi loại chén Chúa đã sử dụng và coi là giá trị thì ngày nay Giáo Hội lại không chấp nhận. Có ý định hay thảo luận nào nhằm thay đổi quy luật này không thưa cha? – M.P., Indianapolis, Indiana.

Trả lời: Chúng tôi đã trả lời câu hỏi tương tự như vậy ngay khoảng đầu năm 2003. Lúc đó, mặc dù tôi đã trả lời rằng các chén thánh bằng thủy tinh hay là gốm sứ không nên được sử dụng vì nó dễ bể, tôi đã nói thêm rằng luật lúc đó vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng. Vấn đề này về sau trong hướng dẫn Redemptionis Sacramentum vào năm 2005 đã được giải quyết, cách chung nó đã phủ định vấn đề:

“[117] Các vật dụng thánh để đựng Mình và Máu Chúa phải được làm tuyệt đối tuân theo các quy tắc truyền thống và các sách phụng vụ. Các Hội đồng Giám mục có chức năng quyết định nó có phù hợp hay không, một khi các quyết định của họ đã được Tòa Thánh nhìn nhận recognitio, thì các vật dụng thánh cũng có thể làm bằng các vật liệu chắc chắn khác. Tuy nhiên, nó tuyệt đối đòi hỏi là các chất liệu như thế phải thật sự quý theo như đánh giá chung trong vùng của họ, để khi sử dụng thật sự dành cho Chúa sự tôn kính, và phải tránh đi tất cả những gì nguy hại tới tín lý về sự Hiện diện Thật của Đức Kitô trong hình Bánh và Rượu. Vì thế, đều là không phù hợp trong bất kỳ một việc thực hành nào trong việc cử hành Thánh Lễ với các vật dụng không đủ chất lượng, hay là không có thẩm mỹ, hay là đơn giản chỉ là những đồ đựng mà thôi, hay là những vật dụng khác làm bằng thủy tinh, bằng đất, đất sét, hay các chất liệu khác dễ bể. Quy tắc này được áp dụng ngay cả với các kim loại và các chất liệu khác dễ bị gỉ sét hay là hư hỏng.”

Trong trường hợp này từ “không phù hợp” có nghĩa là những tập quán không phù hợp, không thể đạt được sức ép buộc của luật, dù cho thực hành này có lâu đời rồi đi chăng nữa.

Một vài hội đồng giám mục đã sử dụng chức năng cho phép từ các sách phụng vụ có đầy đủ chi tiết trong việc quyết định các chất liệu làm vật dụng thánh.

Vì vậy, bản Hướng dẫn Tổng quát trong Sách Lễ Rôma Hoa Kỳ nói:

“327. Trong số những điều kiện tất yếu để cử hành Thánh Lễ, các vật dụng thánh phải có tính cách tôn kính đặc biệt, và trong các vật dụng này thì đặc biệt là chén và dĩa thánh, trong đó đựng bánh và rượu được dâng tiến để truyền phép, và được rước từ trong những vật dụng này.”

“328. Các vật dụng thánh nên được làm từ kim loại quý. Nếu như được làm bằng kim loại có thể gỉ sét, hay là bằng chất liệu ít quý hơn vàng, thì cách chung các vật dụng này nên được mạ vàng phía bên trong.”

“329. Ở các Giáo phận tại Mỹ, các vật dụng thánh cũng có thể được làm bằng các chất liệu cứng khác mà theo phán đoán chung của từng vùng thì chúng là những chất liệu quý, ví dụ như là gỗ mun hay các loại gỗ quý khác, nhưng phải biết rằng nó phù hợp để sử dụng trong việc linh thánh. Trong trường hợp này, luôn đặt ưu tiên với những chất liệu không dễ vỡ và hư hại. Quy tắc này áp dụng cho tất cả các vật dụng có ý định để đựng mình thánh, như là dĩa thánh, chén thánh, mặt nhật, hay là những vật dụng khác tương tự.”

“330. Liên quan tới chén thánh hay các vật dụng khác có ý định để làm vật đựng Máu Chúa, chúng phải có phần chén là không thấm chất lỏng. Mặt khác, chân đế cũng có thể làm bằng các chất liệu cứng và quý khác.”

“331. Để truyền phép bánh thánh, có thể sử dụng một cái dĩa lớn phù hợp, trên dĩa này đặt bánh cho cả linh mục, phó tế, cũng như các thừa tác viên khác và giáo dân.”

“331. Liên quan tới hình dáng của các vật dụng thánh, tùy vào nghệ nhân thiết kế theo tính cách sao cho phù hợp với các phong tục của từng vùng, và từng loại vật dụng phù hợp với mục đích sử dụng trong phụng vụ, và phải có tính cách phân biệt rõ ràng với các đồ dùng thường ngày khác.”

“333. Về việc làm phép các vật dụng thánh, các nghi thức được soạn thảo trong các sách phụng vụ phải được tuân thủ.”

“334. Cũng nên thực hành việc xây dựng trong phòng thánh một nơi nhằm để đổ các loại nước giặt và rửa các vật dụng thánh cũng như khăn thánh (xem số 280).”

Đây là quy luật phải tuân giữ. Gần đây, cũng có cuộc tranh luận về khả thể của các kỹ thuật mới sản xuất ra các loại thủy tinh và gốm sứ rất cứng, quả thật còn cứng hơn cả kim loại hay là gỗ. Nếu như các kỹ thuật này được thẩm định, thì tôi nghĩ câu hỏi này sẽ có thể được đưa ra bàn thảo lại. Việc cấm sử dụng các vật thủy tinh và gốm sứ như đề cập ở trên vì chúng dễ vỡ, dễ bị sứt mẻ, hay vỡ nát nếu như bị rơi, và dĩ nhiên là không thể sửa chữa được.

Câu hỏi không đề cập tới giá trị nội tại như là thủy tinh đẹp, cũng như các loại gốm sứ quý, có giá trị cao. Quả thật là các vật dụng thánh được làm bằng thủy tinh đã được sử dụng trong thời quá khứ.

Tuy nhiên, không đồng ý với việc một số nhà thờ sử dụng những vật dụng chưa được chấp nhận cho các thừa tác viên Thánh Thể ngoại thường. Các vật dụng dùng để đựng chính Chúa, và vì vậy tất cả đều phải xứng đáng với chính Chúa, cho dù ai là thừa tác viên bí tích đi chăng nữa.

Chẳng ai biết chắc chắn Đức Ki tô đã sử dụng vật dụng gì trong Bữa Tiệc Ly. Thật không chắc đã là những chất liệu quý, nhưng đây không phải là điểm chính. Các nghi thức của Giáo Hội tiến triển. Nguyên thủy của việc thiết lập Thánh thể đưa ra cho chúng ta những yếu tố nền tảng, nhưng rồi thời gian ngày càng làm thêm đẹp và biến đổi thành nghi lễ, trong đó các Kitô hữu khao khát có được những gì tốt nhất trong việc thờ phượng Thiên Chúa.

Có lẽ điều tượng trưng cho chúng ta là vào năm 303, vào thời bắt đầu bắt đạo cuối cùng của Hoàng Đế Diocletus, một phái đoàn của các quan chức chính quyền Rôma vào thăm nhà thờ Cirta ở Numidia (ngày nay là Constantino ở Algieria), và yêu cầu xem các sách và tài sản của nhà thờ. Họ đã làm một bản kiểm kê như sau:

“Hai chén bằng vàng, sáu chén bằng bạc, sáu bình bằng bạc, một nồi nấu bằng bạc, bảy đèn bằng bạc, hai bình đựng bánh thánh, bảy chân nến ngắn bằng đồng với nến có sẵn, mười một đèn bằng đồng có dây xích, 82 áo áo đồng phục nữ, 38 bộ áo choàng, 16 áo đồng phục nam, 13 đôi giầy nam, 47 đôi giầy nữ, và 19 móc đồ nông dân. Kiểm tra kỹ hơn, có một đèn khác bằng bạc, và một thùng bằng bạc, rồi có bốn bình lớn, sáu cái vại trong nhà cơm, và cũng có một bộ sách viết tay lớn.”

Nếu như đây là một nhà thờ tương đối không có tiếng tăm trong thời bách đạo mà đã có và sử dụng những vật dụng như thế để cử hành phụng vụ một cách bí mật, thì chẳng ngạc nhiên gì cho chúng ta khi Giáo Hội vẫn tìm cách dâng tiến cho Đức Kitô những gì tốt nhất trong những thời gian sau này, cũng như trong những thời gian chúng ta được tự do hơn.

 

Minh Tuấn, SDB chuyển ngữ

Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với Đức Thánh Cha: Về Bài Tin Mừng Mục Tử Nhân Lành

(Ngày 7 tháng 5 năm 2017)“Chúa Giêsu là Mục tử Nhân lành và là Cửa chuồng chiên” - “Bất cứ ai qua Ngài mà vào thì sẽ được cứu”.

Dưới đây là bài nói chuyện của Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trước và sau Kinh Truyền Tin với những người tụ họp tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Trước Kinh Truyền Tin

Xin chào anh chị em buổi sáng tốt lành!

Bài Tin mừng Chúa Nhật hôm nay (Ga 10,1-10) được gọi là “Chúa Chiên Lành,” Chúa Giêsu miêu tả chính Ngài với hai hình ảnh bổ sung lẫn nhau: hình ảnh thứ nhất là mục tử và hình ảnh thứ hai là cửa chuồng chiên. Chuồng chiên, nơi mỗi người chúng ta đều thuộc về và sống, chuồng chiên cũng chính là nơi nương tựa, nơi chiên cư ngụ và nghỉ ngơi vì đường xa mệt mỏi. Chuồng chiên là một nơi kín đáo có cửa đóng và có người canh giữ. Những người khác nhau sẽ tiếp cận với đoàn chiên: có người vào bên trong theo lối cửa vào, và cũng có người vào trong bằng cách “trèo vào lối khác” (câu 1). Người đi lối cửa để vào là mục tử; còn kẻ trèo lối khác mà vào là người lạ, người này không yêu mến chiên, mà chỉ muốn vào chuồng chiên vì những lý do khác. Chúa Giêsu đồng hóa mình với người mục tử và bộc lộ sự thân quen với đoàn chiên, được biểu lộ qua giọng nói, Ngài gọi chúng và chúng nhận ra và đi theo Ngài (câu 3). Ngài gọi chúng và hướng dẫn chúng tới đồng cỏ xanh tươi, nơi chúng được nuôi dưỡng đầy đủ.

Hình ảnh thứ hai Chúa Giêsu miêu tả chính mình đó là “cửa chuồng chiên” (câu 7). Quả thật, Ngài nói: “Tôi là cửa; ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu” (câu 9), đó là người ấy sẽ có sự sống, và được sự sống dồi dào (câu 10). Đức Kitô, Mục tử Nhân lành đã trở thành cửa của ơn cứu độ cho nhân loại bởi vì chính Ngài đã hiến dâng mạng sống cho đoàn chiên của mình.

Chúa Giêsu, vị Mục tử Nhân lành và Cửa của chuồng chiên, là vị lãnh đạo uy quyền được biểu lộ qua việc phục vụ của Ngài, Ngài là vị lãnh đạo hy sinh chính mạng sống của mình. Chúng ta có thể tin tưởng và phó thác vào vị lãnh đạo như thế, như đoàn chiên nghe theo giọng của vị mục tử, vì chúng biết rằng chúng sẽ được đi tới những đồng cỏ xanh tốt. Một dấu chỉ đầy đủ, một lời kêu gọi và chúng đi theo, vâng lệnh, và đi theo trên con đường được hướng dẫn bằng giọng nói của mục tử, chúng cảm nhận một sự hiện diện thân thiện, cùng lúc mạnh mẽ và nhẹ nhàng, chính là người hướng dẫn, bào vệ, an ủi và chữa trị.

Có lẽ có một chiều kích trong cảm nghiệm Kitô hữu mà một cách nào đó chúng ta còn chưa rõ ràng: chiều kích thiêng liêng và tình cảm, cảm xúc được nối liền bằng một mối dây đặc biệt với Thiên Chúa như là đoàn chiên với mục tử. Đôi khi chúng ta suy luận về đức tin quá nhiều mà chúng ta quên mất việc lãnh hội giọng nói đó, giọng nói của Chúa Giêsu, vị Mục tử Nhân lành, Người khuyến khích và quyến rũ chúng ta. Giống như xẩy ra với hai môn đệ trên đường Emau, trái tim họ bừng cháy khi Đấng Phục Sinh nói chuyện với họ dọc đường. Đó là một cảm nghiệm tuyệt vời bởi một người khi được Chúa Giêsu yêu. Hãy hỏi chính mình câu hỏi này: “Tôi có cảm thấy tôi được Chúa Giêsu yêu không?” Với Ngài, chúng ta không bao giờ là người xa lạ, nhưng là bạn hữu và anh em của Ngài. Phải, không phải luôn luôn dễ dàng để phân biệt giọng nói của người mục tử tốt. Hãy cẩn thận. Luôn luôn có sự nguy hiểm bị phân tâm với những tiếng ồn ào của những giọng nói khác. Ngày nay, chúng ta được mời gọi đừng để cho chúng ta bị hướng dẫn bởi sự khôn ngoan sai lạc của thế gian, nhưng hãy theo Chúa Giêsu, Đấng Phục Sinh, Đấng hướng dẫn chắc chắn, và Đấng cho chúng ta ý nghĩa đích thực của đời sống.

Trong ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi – đặc biệt cho ơn gọi linh mục, để cho Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta những Mục tử tốt – chúng ta hãy kêu cầu Đức Trinh Nữ Maria: xin Mẹ đồng hành với mười tân linh mục cha vừa truyền chức. Cha mới mời gọi bốn người trong họ của Giáo phận Rôma cùng đến để ban phép lành với cha. Xin Mẹ nâng đỡ tất cả những ai Con Mẹ đã kêu gọi, để họ luôn mau mắn và quảng đại đi theo tiếng nói của Ngài.

Sau Kinh Lạy Nữ Vương

Anh chị em thân mến!

Hôm qua, tại Gerona, Tây Ban Nha, đã tôn phong Chân Phước cho Antonio Arribas Hortiguela, và sáu người bạn Tu sỹ của Tu hội Truyền Giáo Thánh Tâm. Đây là những môn đệ trung thành và anh dũng của Chúa Giêsu đã bị giết vì thù ghét vì đức tin trong thời gian bách hại. Nguyện xin sự tử đạo của họ, mà họ đã chấp nhận vì tình yêu Thiên Chúa cũng như trung thành với ơn gọi, khơi dậy trong Giáo hội sự khao khát làm chứng với sự can đảm và Bác ái Tin Mừng.

Cha chào đón tất cả anh chị em, những tín hữu cũng như những người hành hương  Rôma, đặc biệt những người đến từ Warsaw, Aalen (Đức), Liebenau (Áo), từ Chennai (Ấn Độ), và từ Texas, cũng như các giáo viên và học sinh từ “Corderius College” của Armersfoort (Low Countries).

Cha chào đón Hiệp hội “Meter”, đã hơn 20 năm chống lại mọi hình thức lạm dụng trẻ em. Xin cám ơn. Xin cám ơn các bạn rất nhiều vì sự dấn thân trong Giáo Hội và trong Xã hội, xin anh chị em hãy tiếp tục trong can đảm!

Cha chào đón các tham dự viên đang dự hội nghị Police Arms, đại diện của Police Autonomous Syndicate, các tín hữu của Pomezia và Palestrina, Hiệp hội Holy Sepulcher ở Foligno, Valsolda Phiharmonic và các bạn trẻ của Modica. Thật tốt!

Ngày mai chúng ta sẽ nói về Sự Thỉnh cầu Mẹ Maria Mân Côi của Pompeii. Trong tháng Năm này, chúng ta lần hạt Mân côi đặc biệt cầu nguyện cho hòa bình, cha đề nghị: hãy lần hạt cầu nguyện cho hòa bình, như Mẹ Fatima đã truyền lệnh, cha sẽ đi Fatima trong vài ngày tới nhân dịp kỷ niệm một trăm năm Mẹ hiện ra ở đây lần đầu tiên.

Cha cầu chúc tất cả anh chị em một ngày Chúa Nhật tốt lành. Và xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho cha. Chúc anh chị em ăn trưa ngon miệng và hẹn gặp lại anh chị em sớm!

 

Minh Tuấn, SDB chuyển ngữ

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %