Tin Mới nhất:
  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase


GIẢI VIẾT VĂN

SỨ ĐIỆP FATIMA

Cũng như Lộ Đức, Fatima là trung tâm hành hương Đức Mẹ nổi tiếng trên thế giới. Tại làng Fatima, Đức Mẹ đã hiện ra nhiều lần với ba trẻ chăn chiên Lucia, Phanxicô và Giaxinta. Thời gian này đang xảy ra chiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Các nước Châu Âu kinh hoàng và kiệt quệ vì chiến tranh. Giữa bối cảnh đau thương đó, Đức Mẹ đã đến thăm và can thiệp. Sứ điệp Đức Mẹ nhắn gửi đầu tiên qua ba trẻ là: “Các con hãy cầu nguyện! Hãy cầu nguyện thật nhiều!.Ngày 19-8-1917, Đức Mẹ đề nghị: “Hãy hy sinh nhiều để xin ơn tha thứ cho các tội nhân. Có rất nhiều linh hồn đang sa xuống hỏa ngục, vì không có ai hy sinh đền tội và cầu nguyện cho họ”.Mỗi ngày 13,từ tháng 5 đến tháng 10, Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ. Người đến cầu nguyện mỗi ngày một đông hơn. Đức Mẹ hiện ra lần cuối cùng vào ngày 13-10-1917, và có một phép lạ hùng vĩ xảy ra như chính Mẹ đã hứa trước đó: trước đám đông hơn 70 ngàn người, mặt trời nhảy múa trên không trung. Những người có mặt lúc đầu lo sợ vì họ nghĩ ngày tận thế đã đến, sau đó họ vui mừng và quỳ gối lần hạt, nhiều người ăn năn khóc lóc sám hối tội lỗi của mình.

Từ Fatima, Đức Mẹ đã truyền đi thông điệp cho cả thế giới, như một điều kiện khẩn thiết để thế giới được Hòa bình: “Hãy siêng năng lần hạt; hãy cải thiện đời sống; hãy tôn sùng Trái Tim Mẹ”.

Chiến tranh thế giới kết thúc vào tháng 11-1918. Người ta tin chắc đó là do quyền năng của Đức Mẹ. Đất nước Bồ Đào Nha và Châu Âu được Hòa bình. Fatima từ đó đã trở nên trung tâm hành hương quốc tế, mỗi ngày đón tiếp hàng ngàn tín hữu đến cầu nguyện.

Đức Giáo Hoàng Piô XI đã dâng cả thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ. Năm 1942, Đức Giáo Hoàng Piô XII một lần nữa dâng thế giới cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ.Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã trao phó gia đình nhân loại cho Đức Mẹ sau ngày bế mạc Công đồng Vaticanô II (1964) và một lần nữa ngài dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria.

Ngày 13-5-1982, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới linh địa Fatima để tạ ơn Đức Mẹ (sau 1 năm ngài bị ám sát tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 13-5-1981). Ngài tin mình sống sót nhờ sự can thiệp trực tiếp của Đức Mẹ Vô Nhiễm. Chính Ali Agca, kẻ bắn Đức Thánh Cha, một tay bắn súng thiện xạ, cũng hết sức ngạc nhiên, không thể hiểu được vì sao ngài không chết. Sự kiện lạ thường ngoài sức tưởng tượng này đã xảy ra đúng vào ngày kính nhớ Đức Mẹ hiện ra lần đầu tiên với ba trẻ Phanxicô, Giaxinta va Lucia ở Fatima, khiến Đức Thánh Cha nghĩ ngay đến Người Mẹ trên trời dấu yêu. Đức Thánh Cha kết luận: “Một người bắn, nhưng một người khác hướng dẫn đường đạn”. Và Đức Thánh Cha thêm: “Đức Mẹ Maria đã cứu sống tôi”. Do lòng biết ơn Đức Mẹ Fatima, kể từ sau ngày bị nạn, Đức Thánh Cha đã có nhiều nghĩa cử thánh thiện nhằm tôn vinh và tạ ơn Đức Mẹ. Chẳng hạn, ngày 13.5.1982, Đức Thánh Cha đã hành hương Fatima và đặt lên chiếc triều thiên của tượng Đức Mẹ tại đền thánh Fatima viên đạn lấy ra từ thân thể, như một lời khẳng định với thế giới rằng, Đức Mẹ đã che chở ngài.Tiến xa hơn nữa, trong nghĩa cử tỏ lộ lờng yêu mến Nữ Vương Fatima, đó là cuộc hành hương đền thánh Fatima dịp phong Á Thánh cho hai thánh trẻ Phanxicô và Giacinta năm 2000, cũng vào ngày 13-5, Đức Thánh Cha đã đặt dưới chân tượng Đức Mẹ Fatima chiếc nhẫn Giám mục quý giá do Đức Cố Hồng Y Stefan Wyszynski, Tổng Giám Mục Kracow dâng tặng lúc Đức Thánh Cha được bầu làm Giáo hoàng ngày 16-10-1978. Năm 2002, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công bố ngày 13-5 hàng năm sẽ trở thành ngày lễ kính Đức Mẹ Fatima. Chưa hết, để diễn tả lòng yêu mến Đức Mẹ thẳm sâu của mình, Đức Thánh Cha đã viết tông thư “Kinh Mân Côi kính Đức Trinh Nữ Maria” và thêm vào chuỗi Mân Côi truyền thống mầu nhiệm Năm Sự Sáng. Ngài cũng công bố năm 2003 là Năm Thánh Mẫu Mân Côi, nhằm cổ súy việc đọc kinh truyền thống này để tôn vinh mầu nhiệm Mân Côi và các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu Thế. Qua đó, Đức Thánh Cha khuyên dạy các tín hữu hãy yêu mến, hãy chú trọng nhiều đến chuỗi Mân Côi trong đời sống Kitô hữu của mình, hãy chuyên chăm cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã dâng hiến triều đại Giáo Hoàng của mình cho Đức Mẹ Fatima vào ngày 13-5-2013. Ngài đã hai lần yêu cầu Đức Hồng Y José da Cruz Policarpo, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Bồ Đào Nha dâng hiến sứ mệnh theo Thánh Phêrô của ngài lên Đức Mẹ Fatima.

Năm 2013, kỷ niệm 96 năm Đức Mẹ hiện ra với ba trẻ mục đồng. Đây cũng là cơ hội để dâng hiến những ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Rio de Janeiro (23-28 tháng7) lên Đức Mẹ Fatima. Đức Tổng Giám Mục Tempesta đã tuyên bố về việc dâng hiến này trong một lá thư gửi cho Tổng Giáo Phận của ngài vào ngày 3 tháng 5 vừa qua: đó là “dâng hiến tất cả những ngày Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới, tất cả giới trẻ, những cộng sự viên và ban tổ chức” lên Mẹ Maria, để Mẹ dạy cho họ biết “xin vâng với Chúa Kitô, và sứ mệnh của tình yêu và sự cứu chuộc của Người”.

Những Đền thánh, Quảng trường, Nhà thờ, Nhà nguyện…và bao công trình khác được xây dựng tại Fatima. Trung tâm hành hương Đức Mẹ Fatima lôi cuốn khách thập phương đến cầu nguyện mỗi ngày một thêm đông.

1.  Nguồn gốc của từ Fatima

Tên Fatima có nguồn gốc từ tiếng Ả rập. Đó là tên của một công chúa xứ Ả rập. Cô Fatima bị quân Công giáo bắt làm con tin trong thời gian người Moro chiếm đóng Bồ Đào Nha. Sau đó, cô trở thành vị hôn thê của Bá tước Ourém. Cô đã trở lại đạo và lãnh nhận Bí tích Rửa tội trước khi thành hôn với Bá tước này vào năm 1158. Cô lấy tên là Oureana (Oriane), tên của thành phố Ourém ngày nay phát xuất từ chữ Oureana.

Làng Fatima nhỏ bé ngày xưa nay đã trở thành thị trấn sầm uất và là linh địa thuộc thành phố Ourém trong quận Santarém.

2.  Đôi nét lịch sử

Năm 1917, Fatima là miền quê gồm khoảng 2.500 người cư ngụ rải rác trong khoảng 40 thôn xóm. Dân lao động làm ruộng nương rẫy. Trẻ em thường chăn dắt bờ, dê, cừu...Phần lớn dân cư đều mù chữ, chỉ có khoảng 10% phụ nữ biết đọc, biết viết.

Các gia đình Dos Santos và Marto cư ngụ trong thôn Aljustrel, đây là một trong những thôn xóm xưa nhất của xứ đạo Fatima. Vào đầu thế kỷ XX, Aljustrel là một nơi chỉ có 25 gia đình sinh sống với khoảng 100 cư dân, làm nghề nông và chăn cừu, phần lớn mù chữ. Họ kiếm sống ở vùng đất khô cằn bằng cần cù làm việc. Ban tối cả gia đình quây quần bên lờ sưởi dùng bữa và tạ ơn Chúa. Cuộc sống của dân quê chất phác. Gia đình Dos Santos có 1 bé gái, sinh ngày 22-3-1907. Gia đình người em họ Marto có 1 con trai là Francisco Marto, sinh ngày 11-6-1908 và 1 con gái là Jacinta Marto, sinh 11-3-1910. Ba em bé này thường chăn dắt đàn cừu tại bãi cỏ “Cova de iria” cách thôn chừng 2 km.

Vào ngày đầu tiên của năm 1916, trời mưa lớn, ba em nhỏ là Lucia 9 tuổi, và hai người em họ là Phanxicô 8 tuổi và Giaxinta 6 tuổi đang trú mưa tại một hang. Bỗng nhiên, một vầng sáng trắng xuất hiện trên đồng cỏ. Các em sửng sờ khi thấy một thanh niên trẻ đẹp trong y phục màu trắng đứng giữa vầng sáng. Người thanh niên trong vầng sáng ấy nói với các em rằng: "Ðừng sợ, ta là sứ thần Hòa bình. Hãy cùng ta cầu nguyện". Ðoạn người quỳ xuống và cầu nguyện: "Lạy Chúa, con tin kính, con thờ lạy, con trông cậy và con yêu mến Chúa. Xin Chúa tha thứ cho những kẻ đã không tin kính, không thờ lạy, không trông cậy và không yêu mến Chúa". Thiên Thần lại cúi đầu sâu hơn, và cầu nguyện ba lần như vậy, các em cũng lập lại lời cầu nguyện này với Thiên Thần.

Rồi vào một ngày mùa hè, đang khi các em vui đùa, Thiên Thần lại hiện ra với các em và bảo: "Hãy cầu nguyện và cầu nguyện thật nhiều. Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Mẹ Maria đã dành cho chúng con đầy lờng thương xót. Hãy tiếp tục dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện và những hãm mình. Hãy biến mọi việc làm thành những hy sinh dâng lên Thiên Chúa để đền bù tội lỗi đã xúc phạm đến Người, và cầu cho kẻ có tội ăn năn trở lại. Bằng phương thế này, Hòa bình sẽ đến với quê hương các con... Ta là Thiên Thần bản mệnh của nước Bồ Ðào Nha. Hãy đón nhận và vui lòng chịu đựng mọi thử thách Chúa sẽ gửi đến cho các con". Mùa thu năm ấy, Thiên Thần lại hiện đến cùng các em. Trong lần hiện ra thứ ba này các em thấy Thiên Thần một tay bưng một chén Thánh, một tay cầm Mình Thánh Chúa, các em đã nhìn thấy những giọt máu nhỏ xuống chén thánh. Ðể chén thánh và Mình Thánh Chúa lơ lửng trên không trung, Thiên Thần cung kính quỳ xuống đất và cầu nguyện: "Lạy Ba Ngôi Cực Thánh - Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần - con cung kính thờ lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa mình và máu thánh cực trọng, linh hồn và bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô đang ngự trong các nhà chầu trên khắp hoàn cầu để đền tạ vì những tội bội bạc, thờ ơ, xúc phạm đến Người. Cậy vì công nghiệp vô cùng của Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria, xin Chúa cho kẻ có tội được ăn năn trở lại".

Sau hơn một năm, kể từ ngày Thiên Thần hiện ra lần đầu tiên cùng các em, vào ngày 13 tháng 5 năm 1917, Ðức Mẹ đã hiện ra cùng các em. Trong những tháng kế tiếp, ba trẻ trở lại đồi Cova da Iria theo lời dặn dờ của Đức Mẹ, bất chấp những khó khăn ngoại cảnh như thời tiết bất thuận lợi hay khó khăn tinh thần như sự ngờ vực và cấm đoán của cả chính quyền lẫn giáo quyền. Vượt qua tất cả, các em vui mừng và hy vọng tiến đến điểm hẹn, vừa đi vừa lần hạt, lờng khát mong gặp lại Đức Mẹ. Chính Đức Mẹ luôn tôn trọng lịch gặp gỡ với các em như đã hẹn trước là ngày 13 mỗi tháng (trừ tháng 8 các em bị nhốt), khích lệ, trờ chuyện, cầu nguyện, dạy dỗ, nâng đỡ, ủi an và mạc khải cho các em nhưng điều cần kíp do Đức Mẹ mong muốn hay hoàn cảnh đời buộc.

a.  Đức Mẹ hiện ra lần đầu 

Ngày 13-5-1917, vào lúc trưa, 1 bà mặc áo trắng tinh hiện ra với 3 em bé chăn cừu, nói với các em là hãy lần chuỗi đọc kinh Mân Côi hàng ngày để cầu nguyện cho thế giới chấm dứt chiến tranh, được Hòa bình. Trước khi biến đi, Bà bảo 3 em hãy trở lại nơi đây đúng giờ trưa ngày 13 tháng sau.

Giacinta quên giữ kín nên về nhà thuật lại sự việc cho cha mẹ nghe. Tin này loan truyền nhanh khắp làng. Mọi người tỏ ra không tin. Vị linh mục chính xứ hỏi Lucia, nhưng cũng không tin. Trong báo cáo gửi lên Đức Giám Mục  Giáo Phận Leiria, cha xứ viết: cần phải xa lánh chuyện này.

b.  Đức Mẹ hiện ra lần thứ hai 

Ngày 13 tháng 6, đúng giờ trưa, 3 em lại tới nơi hẹn, theo sau có khoảng vài chục người tờ mờ đến xem sự thể ra sao. Mọi người lần chuỗi đọc kinh. Đức Mẹ hiện ra với 3 em, nhắc Lucia về tầm quan trọng của việc đọc kinh Mân Côi, đồng thời báo trước cái chết của 2 anh em Phanxicô và Gianxinta: “Ta sẽ sớm đưa Phanxicô và Gianxinta về trời, cờn con, con sẽ ở lại thế gian một thời gian. Chúa Giêsu muốn dùng con để loan truyền cho mọi người biết ta và yêu mến ta”. Đức Mẹ cũng yêu cầu Lucia học chữ để dễ loan báo lời Đức Mẹ cho các người khác. Những người đi theo không nhìn và nghe thấy gì. Họ chỉ nhìn thấy cành cây nhỏ nơi Đức Mẹ đứng trĩu xuống dưới một sức nặng, rồi đột nhiên bật lên khi Đức Mẹ biến đi.

c.  Đức Mẹ hiện ra lần thứ ba 

Ngày thứ Sáu 13-7-1917, “bà mặc áo trắng” lại hiện ra với 3 em, có khoảng 4.000 người theo sau. Đức Mẹ vẫn nhắc Lucia việc đọc kinh Mân Côi mọi ngày, để chiến tranh mau chấm dứt. Lần này Đức Mẹ tiết lộ cho 3 em "bí mật" gọi là "bí mật Fatima". (Năm 1942, 2 bí mật đầu đã được công bố, cờn bí mật thứ 3 thì mãi tới năm 2000, Giáo hội mới công bố).

d.  Đức Mẹ hiện ra lần thứ tư 

Ngày 10-8-1917, viên chánh tổng, một người chống đối hàng giáo sĩ đời 3 em tới để tra hỏi, nhưng không có kết quả. Ngày 13-8, ông ta nhốt 3 em vì làm rối loạn trật tự công cộng và tiếp tục tra hỏi, nhưng hoài công. Rốt cuộc, ngày 15-8, ông ta phải thả 3 em ra.

Tuy nhiên, ngày 13-8, có khoảng 18.000 người tới bãi chờ xem sự lạ, nhưng 3 em vắng mặt vì cờn bị nhốt. Chúa nhật 19-8, khi 3 em dẫn đàn cừu tới thả ở bãi Cova de iria, Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em, yêu cầu các em nói với mọi người cầu nguyện cho những người tội lỗi mau thống hối và hứa sẽ làm 1 phép lạ cho mọi người tin.

e.  Đức Mẹ hiện ra lần thứ năm 

Ngày 13-9, có khoảng 30.000 người tụ họp tại bãi Cova de iria, cầu nguyện cùng với 3 em. Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em và cho biết tháng sau, sẽ có Chúa, Đức Mẹ núi Carmêlô, thánh Giuse và Chúa Hài đồng Giêsu sẽ cùng tới.

f.   Đức Mẹ hiện ra lần thứ sáu 

Đây là bản sao chụp 1 trang của báo Ilustração Portugueza ngày 29-10-1917 cho thấy đám đông dân chúng đang ngẩng nhìn Phép lạ Mặt trời, khi Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.

Ngày 13-10-1917, mưa như trút nước trên bãi Cova da Iria. Một đám đông khoảng 70.000 người kể cả nhiều phóng viên chụp hình và các ký giả tụ tập tại đây lần chuỗi, đọc kinh cầu nguyện. Lúc giữa trưa, Đức Mẹ hiện ra với 3 em và tỏ cho các em biết, Bà chính là Đức Nữ Trinh Maria, Mẹ Rất Thánh Mân Côi. Đức Mẹ mời gọi các em cầu nguyện, làm việc đền tạ và tiếp tục lần chuỗi mỗi ngày. Đức Mẹ cũng muốn người ta phải xây một nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ tại đây. Đức Mẹ nhắc nhở thế giới, đừng xúc phạm đến Chúa nữa, Người đã bị xúc phạm quá nhiều.Đức Mẹ cũng loan báo thế chiến thứ nhất sẽ sớm chấm dứt và yêu cầu những kẻ có tội hãy mau sám hối. Khi Đức Mẹ về trời thì mưa ngưng rơi, mặt trời xuất hiện trên bầu trời xanh biếc. Đám đông đã có thể nhìn thẳng vào mặt trời và thấy mặt trời nhảy múa, tung ra các chùm tia sáng nhiều màu. Mặt trời dường như xuống thấp gần trái đất, khiến đám đông sợ hãi. Việc lạ xảy ra trong 10 phút, sau đó mọi sự trở lại bình thường. Hiện tượng này được hầu hết đám đông chứng kiến, và một số người ở cách đó mấy dặm cũng nhìn thấy.

Trong thời gian này, các nhà khoa học trên thế giới không hề ghi nhận 1 hiện tượng khác thường nào của mặt trời.

Trong khi đó, riêng 3 em nhìn thấy Thánh Gia, rồi Đức Mẹ Sầu Bi, Chúa Hài Đồng Giêsu và sau hết là Đức Mẹ núi Carmêlô lần lượt xuất hiện như đã hứa trước với 3 em.

Phanxicô và Giaxinta chết sớm trong đợt dịch cúm Tây ban nha. Phanxicô chết năm 1919. Jancinta chết năm 1920. Cả 2 em đã được  thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II nâng lên hàng đáng kính vào ngày 13-5-1989, được phong Chân Phước vào ngày 13-5-2000 và ĐTC Phanxicô phong thánh vào ngày 13.5.2017. Mộ của 2 thánh hiện nằm trong lòng Vương cung thánh đường Fatima. Còn Lucia vào tu viện dờng Dorothea ở Pontevedra (Galicia, Tây ban nha) ngày 24-10-1925, sau đó khấn lần đầu ở Tuy (Tây ban nha) năm 1928. Năm 1925 và 1929, Lucia lại được Đức Mẹ hiện ra với mình. Tháng 10-1934, Lucia khấn trọn và lấy tu danh là nữ tu Đức Mẹ Maria Sầu Bi.

Sau nhiều năm điều tra, Đức Giám Mục Da Silva, cai quản Giáo phận Leiria, trong thư mục vụ ngày 13.10.1930 đã công nhận sự kiện Đức Mẹ hiện ra với 3 em ở Fatima và chính thức cho phép việc tôn sùng Đức Mẹ Fatima. Theo lệnh hàng giáo phẩm, Lucia đã viết các hồi ký về sự kiện trên gồm 4 bản: 1 bản năm 1935, 1 bản năm 1937, 1 bản năm 1941 và 1 bản đầu năm 1942. (wikipedia)

Năm 1946, nhân kỷ niệm 300 năm ngày dâng nước Bồ Đào Nha cho Đức Trinh Nữ Maria, vị sứ thần tờa thánh Vatican là Hồng Y Masella đã đội (vương miện) triều thiên lên tượng Đức Mẹ Fatima, với sự tham gia chứng kiến của khoảng 600.000 tín hữu hành hương. Vương miện này do các phụ nữ Bồ Đào Nha cung hiến để cảm tạ Đức Mẹ đã gìn giữ Bồ Đào Nha trong cuộc thế chiến thứ nhất.

Từ năm 1948, Lucia vào tu trong đan viện dòng kín Carmêlô ở Coimbra (Bồ Đào Nha), dưới tên nữ tu Lucia Trái Tim Vô nhiễm nguyên tội. Lucia qua đời ngày 14-2-2005 ở tuổi 97. Thánh lễ an táng được cử hành vào ngày 16-2-2005 tại Vương cung thánh đường Coimra. Sau khi Lucia qua đời, đức Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ Giáo Lý Đức Tin (sau này là Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI) cho niêm phong phòng của Lucia, có lẽ để điều tra trong tiến trình phong thánh cho Lucia.

3.  Nhà Thờ Chúa Ba Ngôi Cực Thánh

Đồng cỏ Cova da Iria ngày xưa nay trở thành quảng trường có tên Santuario. Đến Trung tâm mục vụ Centro Pastoral Paul VI với những lối đi bên hông. Trung tâm này cũng là  ngôi Nhà thờ rất lớn có tên là Most Holy Trinity Church (tiếng Bồ Đào Nha là: Santissima Trindade). Có khi người ta gọi đây là Most Holy Trinity Church khi thì  Paul VI Pastoral Centre.

Nhà thờ được ĐGH Bênêđictô XVI thánh hiến vào năm 2007,với chi phí 80 triệu Euro do khách hành hương dâng cúng. Viên đá đầu tiên được lấy từ mộ thánh Phêrô ở Roma.Trung tâm hay thánh đường là một tờa nhà hình khối trờn đường kính 125m, cao 18m, trần không có cột chống đỡ mà chỉ tựa vào 2 cây đà cực lớn nên trông rất rộng. Nội thất nhà thờ pha trộn kiểu đương đại, phục hưng và trung cổ, được chia làm hai ngăn bởi một bức tường di động cao 2m. Hướng dẫn viên cho biết Nhà thờ có 8,900 chỗ ngồi rộng thoải mái cùng với 76 chỗ cho người khuyết tật; cung thánh đủ chỗ cho100 vị đồng tế.Cửa chính nhìn ra quảng trường là 4 tấm bằng đồng cao 8 mét, mỗi tấm nặng 3,200kg với những hình ảnh kể về công cuộc tạo dựng nên trời đất. Mái cổng vào là những tấm lưới sắt mô tả cảnh thiên thần ca hát mời gọi hãy đến thờ phượng Chúa khi khách hành hương tiến vào nhà thờ. Kiến trúc sư là người Chính thống giáo Hy Lạp nên nhiều kiến trúc chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Byzantine và Orthodox. Nhà thờ này cónét kiến trúc hiện đại tương tự như các Nhà thờ mới ở Rotoldo và Lộ Đức.

Nổi bật trên cung thánh là Chúa Giêsu trên cây Thánh giá rất lạ.Nữ điêu khắc gia người Anh không phải là Kitô hữu đã kết hợp ý tưởng văn hóa nhiều châu lục. Khuôn mặt Chúa Giêsu mang dáng vẻ Á Châu, đôi tay dáng Châu Mỹ, đôi chân dáng Châu Phi, gót chân dáng Châu Đại Dương và thân mình dáng Châu Âu. Bên trái bàn thờ có tượng Đức Mẹ Fatima màu trắng thanh thoát. Nổi bật trên bức phong cung thánh rộng 50m cao 10m bằng gạch terracota màu vàng kim phíasau Thánh giá là Con Chiên Thiên Đàng, hai bên với bức tranh nghệ thuật mosaic mạ vàng. Bên trái Đức Maria cùng với Phanxicô và Lucia và đông đảo chư thánh. Bên phải là thánh Gioan Tẩy Giả cùng với 12 Tông Đồ.

Trung tâm Mục vụ Phaolô VI được Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan Phaolô II khánh thành ngày 13-05-1982. Đây là trung tâm nghiên cứu và suy tư về Sứ điệp Fatima. Trung tâm có sức chứa 2.000 người và cho 400 khách hành hương trọ, và cũng có nhiều văn phờng mục vụ, nhiều nhà nguyện nhỏ, nhiều phờng giải tội và bảo tàng bên trong.Từ Trung tâm Mục vụ này, người ta kẻ một đường sơn đặc biệt rộng khoảng gần 1 mét kéo dài cho tới Nhà nguyện và lễ đài ngoài trời dài khoảng 500 mét dùng để cho khách hành hương đi bằng đầu gối cầu nguyện và sám hối. Phía bên trái trung tâm này là cây Thánh giá nghệ thuật được dựng nên kỷ niệm kết thúc Năm thánh 1951.

Cửa chính của Trung tâm mục vụ Phaolô VI hay Nhà thờ Chúa Ba Ngôi nằm thẳng đường với mặt tiền Vương cung Thánh đường Mân Côi tạo thành một tổng thể kiến trúc rộng và hài Hòa. Hai bên là những hàng cây lá xanh đậm tạo nên bức tường làm cho quảng trường thánh địa trở thành một khu vực biệt lập nhưng lại có thể dễ dàng ra vào ở mọi hướng.Hai bên quảng trường cũng có nhiều tượng các thánh, nhiều kiến trúc với những di tích và kỷ niệm các biến cố xã hội tôn giáo.

4.  Nguyện đường Hiện ra

Đây là một gian nhà nhỏ, mái phẳng, trần lộ thiên, hai bên bằng kính trắng, có nhiều cửa ra vào rộng rãi. Nhà nguyện rất đơn sơ không có khung cảnh đồ sộ hay mang nét huyền bí, nhưng đây lại là địa chỉ thật linh thiêng vì là nơi Đức Mẹ đã hiện ra với 3 trẻ vào năm 1917.

Năm 1919, một nguyện đường nhỏ đã được xây tại đây. Đến ngày 13-10-1921, thánh lễ đầu tiên được cử hành tại nhà nguyện này. Đã có nhiều lần tu bổ, nhưng nguyện đường vẫn giữ hình dáng cũ cho đến ngày nay. Giữa nhà nguyện có bệ cao khoảng 1 mét  đặt tượng Đức Mẹ Fatima đầu đội triều thiên bằng vàng nặng 1,2 kg, gắn 313 viên ngọc trai và 2.679 viên đá quý. Sau này, Đức Giáo hoàng Gioan Phao-lô II đã gắn viên đạn đồng bắn vào ngài lên trên vương miện Đức Mẹ. Nguyện đường Hiện ra mở cửa suốt ngày đêm, chẳng thấy có an ninh canh gác, nhưng không một ai đến phá hoại hay trộm cắp những vật quý trên vương miện.

Bên trái nhà nguyện là những dãy nhà dành cho người hành hương đốt nến kính Đức Mẹ. Sát bên phải nhà nguyện có cây sồi xanh với tên gọi là Large “Azinheira” sống trên 100 năm. Cây dáng cổ thụ lá xanh thẫm. Chính ba trẻ chăn chiên đã nói rằng, trên cây này vào ngày 13-5-1917, các em thấy tia chớp sấm sét thứ hai xảy ra và sau đó Đức Mẹ hiện ra. Và cũng chính dưới tàn cây này mà ba trẻ cùng cầu nguyện với những người đi theo các em trong khi chờ Đức Mẹ hiện ra. Cây sồi này là cây duy nhất cờn lại. Năm 2007, Bộ Tài nguyên Lâm sản Bồ Đào Nha đã xếp cây này vào loại “cây có giá trị công ích”.Gần lối vào Đền Thánh phía nhà xứ là Đài tưởng niệm Bức tường Bá linh, chứa đựng 5,7323 pound mảnh tường Bá linh do một người di cư ở Bồ Đào Nha đến Đức sau khi Bức tường này bị sụp đổ vào năm 1989. Ông dâng kính mảnh tường này như là một sự tưởng niệm việc Thiên Chúa can thiệp như Đức Mẹ Fatima đã hứa.

5.  Vương cung Thánh Đường Mân Côi

Ba trẻ chăn chiên kể lại, Đức Mẹ hiện ra đã nói với các em: “Ta muốn xây nơi đây một nguyện đường để kính Ta, vì Ta là Đức Mẹ Mân Côi”. Vì vậy, thánh đường này cờn được gọi là “Basilica of Our Lady of Rosary”. Kiến trúc sư Hòa Lan Gerardus van Krieken vẽ bản nháp và Kiến trúc sư Joao Antunes đã hoàn tất.

Ngày 13-5-1928, Đức Tổng giám mục Manuel Santos làm phép đặt viên đá đầu tiên. Nhà thờ được thánh hiến vào tháng 10 năm 1953. Năm 1954, Đức Giáo Hoàng Piô XII nâng lên hàng vương cung thánh đường. 

Nhà thờ có nét kiến trúc tân cổ điển với một ngọn tháp trung tâm cao 65m. Mặt tiền có tượng Đức Mẹ Fatima cao 4,73m nặng 13.000kgnằm ở phần lõm mặt tiền Nhà thờ trên lối vào chính. Một linh mục Dờng Đaminh người Mỹ là Thomas Mc Glynn đã dành nhiều thời giờ nói chuyện với thị nhân là Sr Lucia khi Sr diễn tả cho ngài từng chi tiết Đức Maria đã nhìn như thế nào lúc Mẹ hiện ra. Bức tượng là tác phẩm hợp tác giữa thị nhân và nhà điêu khắc để miêu tả chính xác nhất Đức Mẹ Fatima. Bức tượng này là món quà của người Công giáo Hoa kỳ gửi đến Đền thánh Fatima năm 1958.

Nhà thờ có chiều dài 70,5m, rộng 37m. Trên tháp chuông là một vương miện bằng đồng nặng 7.000kg bên trên đặt cây thánh giá có chất lân tinh ban đêm có thể thấy từ xa. Bộ chuông gồm 62 cái và chuông lớn nhất nặng 3.000kg, quả chuông nặng 90kg.

Mặt tiền hai bên có đến 200 cột nối liền với các Tu viện và các tờa nhà của bệnh viện. Trên các cột trụ có tượng 17 vị thánh. Những hàng cột tạo thành một vờng cung ôm trọn một bề ngang của quảng trường. Ở ngoài hành lang bên trái có vườn cỏ dựng hai bức tượng thạch cao của hai trẻ đang cầm tràng chuỗi là Phanxicô và Giacinta. Giữa hành lang và cổng chính của nhà thờ là một lễ đài có mái che dùng để cử hành thánh lễ ngoài trời giống như ở quảng trường Thánh Phêrô.

Bên trong Nhà thờ gồm một gian chính, hai gian ngang. Cung thánh được ngăn cách bởi một bao lơn rước lễ ngày xưa. Phía bên trái có tượng Đức Mẹ FatimaThánh Du, được Giám mục của Leiria đặt làm giống hình ảnh Đức Mẹ mà Lucia mô tả và được Tổng Giám mục Evora làm phép trọng thể vào ngày 13-5-1947, và sau đó tượng được rước đi  khắp thế giới trong đó có Miền Nam Việt Nam. Bức tượng này, sau khi thánh du mọi nơi, đến năm 2003 đã được đem về đặt trên một bệ đá bên trái bàn thờ chính.

Phía trước cung thánh, phía cánh ngang bên phải là mộ của Phanxicô chết năm 1919. Cũng như người em gái, thi hài Phanxicô được chôn ở nghĩa trang giáo xứ Fatima. Năm 1952, di hài hai em được cải táng và đem về chôn trong Nhà thờ. Phía bên trái có phần mộ của Lucia và Giaxinta. Giaxinta chết năm 1920 lúc mới 9 tuổi. Lucia chết ngày 13-2-2005, an nghĩ tại tu viện Carmêlô ở Coimbra, sau đó được cải táng và đem về chôn bên cạnh người em họ của mình vào ngày 19-2-2006.

Gần bàn thờ, có mộ Đức Cha José Alves Correia da Silva, Giám Mục tiên khởi của Giáo phận Leiria. Chính ngài đã mở cuộc điều tra và đến năm 1930 tuyên bố sự kiện Fatima là “đáng tin” và cho phép việc tôn sùng.

Có 15 bàn thờ dâng kính 15 mầu nhiệm Kinh Mân Côi. 14 bàn thờ nhỏ nằm hai bên hông của gian chính, mỗi bàn thờ có một bức phù điêu bằng đồng mô tả 14 mầu nhiệm của Chuỗi Mân Côi. Mầu nhiệm thứ 15 là một bức hình đắp nổi cao bằng đá Chúa Ba Ngôi đội vương miện cho Đức Mẹ nằm trên vờm của bàn thờ chính, do Maximiano Alves và Stella Albuquerque thực hiện, nặng 65.000kg.

Một cây đàn đại phong cầm được thiết kế vào năm 1952 với 12 ngàn ống ở trên cao phía sau mặt tiền Nhà thờ. Bốn tượng của 4 vị đại Tông đồ cổ võ Kinh Mân Côi và lờng sùng kính Đức Maria được đặt ở 4 góc Đền thờ. Đó là Thánh Antôn Maria Claret, Thánh Đaminh, Thánh Gioan Eudes và Thánh Stêphanô vua nước Hunggary.

còn rất nhiều tác phẩm đủ loại do nhiều nghệ nhân thực thiện để làm cho vương cung thánh đường thêm uy nghi. Đó là những kỷ vật có thể do một giáo xứ hay một cộng đồng địa phương hay ngoại quốc dâng tặng để kính Đức Mẹ.

6.  Sứ điệp Fatima

Ngày xưa, Fatima là một khu vực hoang vu. Làng Fatima là một thôn nghèo. Nét hoang vu và nghèo nàn ngày xưa đó như còn phảng phất nơi những hoa cỏ nội đồng, những bụi lau, cây sậy… Tuy nhiên, bên cạnh chút hương đồng gió nội của thời xa xưa ấy là những khách sạn, những nhà dòng, những nhà nghỉ, những nhà tĩnh tâm dành cho khách hành hương….và vô vàn của hiệu bán các tranh, ảnh tượng thánh và đồ lưu niệm. Trung tâm Fatima chính là Vương cung Thánh đường kính dâng Mẹ với quảng trường rộng mênh mông.

Nhìn từ Vương cung thánh đường: bên phải chính là nhà nguyện Đức Mẹ hiện ra,nơi đây con cái Mẹ Lần Chuỗi và Chầu Thánh Thể suốt ngày đêm; bên trái là Bảo Tàng Viện, nơi lưu giữ tất cả những kỷ vật dâng kính Mẹ Fatima từ khắp nơi trên thế giới, mà đặc biệt nhất là triều thiên Đức Mẹ Fatima có gắn đầu đạn mà Ali Aca đã ám sát Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 13.05.1981 (điều lạ lùng là triều thiên được làm từ năm 1957, nhưng khi Đức Thánh Cha tặng cho trung tâm Fatima đầu đạn này để gắn vào triều thiên của Đức Mẹ như 1 lời tạ ơn… thì ngay chính giữa triều thiên đã có sẵn 1 lỗ vừa khớp với đầu đạn… như thể là Mẹ đã chuẩn bị trước, giống như trong “Bí Mật thứ 3” được chị Lucia ghi lại và được Giáo Hội cho công bố năm 2000); bên cạnh của Bảo Tàng Viện là một phần nhỏ của Bức Tường Ô Nhục Bá Linh do cộng sản Đông Đức dựng lên năm 1961 để ngăn những người trốn chủ nghĩa cộng sản từ Đông Đức qua Tây Đức, bức tường này bị phá huỷ vào năm 1989 đánh dấu sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản tại Châu Âu, và biến cố này được coi như có sự can thiệp của Mẹ Maria, vì từ năm 1917, Đức Mẹ đã kêu gọi “cầu nguyện cho Nước Nga trở lại”; phía trước của quảng trường mênh mông là “Nhà Thờ hầm” thật hùng vĩ và hiện đại khánh thành năm 2007 để dành cho những dịp hành hương vào Mùa Đông, trong quần thể này có nhiều văn phòng mục vụ, nhiều nhà nguyện nhỏ, nhiều phòng giải tội và bảo tàng…

Những ngày hành hương, tham quan và cầu nguyện, gợi lên trong tôi những suy nghĩ về Sứ điệp Fatima.

a.  Hòa bình

Đức Mẹ Maria hiện ra với ba trẻ chăn chiên với mục đích là mang sứ điệp Hòa bình chân chính đến cho nhân loại. Ăn năn đền tội và cầu nguyện là điều kiện để bảo đảm cho nền Hòa bình thế giới và sự bình an của mỗi tâm hồn.

Bên cạnh Vương cung Thánh đường, có một mảng lớn của bức tường Bá linh.Người ta gọi đó là “bức tường ô nhục” vì nó được xây nên để phân cách nước Đức,chia ra thành Đông Đức và Tây Đức, làm cho anh em một nhà phải xa nhau. Bức tường ấy đã bị phá đổ và một mảng tường lớn có chiều dài chừng7m, chiều rộng chừng 2,2m được đưa về đây, như một lời tạ ơn Đức Mẹ và như lời mời gọi, hãy phá bỏ những hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, các quốc gia, xây dựng và củng cố nền Hòa bình đích thực.

Tháng 10 năm 1930, Ðức Cha Dom José Alves Correia, Giám Mục giáo phận Leiria, công nhận biến cố Mẹ hiện ra tại Fatima, và ban phép sùng kính Mẹ Fatima.Thôn làng nhỏ bé Fatima đã trở nên trung tâm hành hương thế giới. Khách thập phương tề tựu về bên Mẹ cầu khẩn, tạ ơn, xin ơn. Fatima trở thành động lực thúc đẩy mọi người hưởng ứng lời Mẹ nhắn nhủ: cầu nguyện và hy sinh cho tội nhân được ơn trở lại, nhất là nguyện cầu cho thế giới được Hòa bình.

Sứ điệp Hòa bình của Fatima rất Hòa hợp với sứ điệp hòa bình của Phúc Âm. Hòa bình thật khẩn thiết và quan trọng biết bao cho cuộc sống nhân loại! Mọi người đều mong muốn hòa bình, khát khao được sống trong hòa bình. Mẹ Maria ban cho nhân loại một nền hòa bình chân chính và bền vững. Muốn được hưởng nền Hòa bình đích thực ấy, nhân loại cần phải thực hiện những điều kiện hữu lý và hoàn toàn khả thi mà Đức Mẹ đưa ra, đó là:- Sám hối ăn năn và cải thiện đời sống. Xưng tội rước lễ các ngày Thứ Bảy đầu tháng - Siêng năng cầu nguyện, hy sinh hãm mình đền tội và lần Chuỗi Mân Côi - Tôn sùng Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.

b.  Lần hạt Mân Côi và hãm mình đền tội

Ngay lần đầu tiên khi hin ra với ba em ngày 13.5.1917, Đức Mẹ đã xin ba em: Các con hãy cầu nguyện kinh Mân Côi mỗi ngày để xin hòa bình cho thế giới và chấm dứt chiến tranh. Sứ điệp này Đức Mẹ còn nhắc lại nhiều lần khi hiện ra với các em sau này.  

Khi hiện ra lần thứ ba, ngày 13.7.1917, Đức Mẹ cũng lặp lại sứ điệp trên và cho ba em được thấy thị kiến hỏa ngục. Chị Lucia kể lại như sau:"Ta muốn con đến đây ngày 13 tháng sau, và tiếp tục đọc kinh Mân Côi tôn kính Đức Bà Mân Côi để xin hòa bình cho thế giới và cho chiến tranh chấm dứt”. “Đức Mẹ cho chúng tôi thấy một biển lửa rất lớn, hình như ở dưới lòng đất. Ngập lặn trong biển lửa đó là ma qủi và các linh hồn, như thể những cục than trong như phalê mầu đen hoặc vàng cháy giống hình người, bị đẩy lên đẩy xuống trong đám cháy, phát ra những tia lửa và đám khói, rơi xuống tứ tung như những tàn lửa trong một đám cháy lớn, không trọng lượng, không cân bằng, giữa những tiếng la hét thất thanh, đau đớn và tuyệt vọng, làm kinh tởm và run sợ vì khiếp đảm. Lũ quỉ có thể nhận ra được vì những hình thù ghê tởm làm nôn mửa của thú vật gây khiếp đảm và chưa hề thấy, nhưng trong như pha lê và đen. Thị kiến này chỉ xảy ra trong giây phút và nhờ Đức Mẹ đã hứa trước là sẽ đưa chúng tôi lên Trời, nếu không chắc chúng tôi sẽ chết vì khiếp đảm và sợ sệt.Sau đó, chúng tôi nhìn lên Đức Mẹ; với vẻ mặt nhân từ và buồn sầu, Người nói với chúng tôi: Các con đã thấy hỏa ngục nơi nhiều linh hồn các kẻ có tội đã rơi xuống. Để cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới lòng sùng kính Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ. Nếu họ làm những gì Mẹ nói, nhiều linh hồn sẽ được cứu rỗi và sẽ có hòa bình…”

“Chúng tôi nhìn thấy về phía trái Đức Mẹ, hơi xếch lên trên có một Thiên Thần, tay trái cầm ngọn giáo lấp lánh phát ra những ngọn lửa như muốn thiêu đốt thế giới, nhưng tắt ngấm khi tiếp xúc với ánh hào quang phát ra từ tay phải của Đức Mẹ chỉ về phía Thiên Thần. Tay phải của Thiên Thần chỉ mặt đất và nói với giọng rất lớn: Hãm mình đền tội, Hãm mình đền tội, Hãm mình đền tội!”  (Trong thị kiến này, chị Lucia nói đến Vị Giám mục mặc áo trắng mà chị nghĩ là Đức Thánh Cha, nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ leo lên ngọn núi cao, dốc mà trên đỉnh có cây Thánh Giá lớn…) 

Để cứu linh hồn các kẻ có tội khỏi sa hỏa ngục và để giải quyết vấn đề lớn lao của thế giới là chiến tranh,Đức Mẹ đã xin: lần hạt Mân Côi và hãm mình đền tội. (x.Thư mục vụ tháng 5/2017, ĐGM Giáo Phận Xuân Lộc).

Những vấn đề của thế giới ngày nay trên căn bản cũng không khác bao nhiêu những vấn đề của thế giới vào thời gian Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, có khác chăng là khác về tính cách nghiêm trọng và cường độ của các vấn đề. Đứng trước những vấn đề lớn lao như chiến tranh, bất công, áp bức, tự do tôn giáo, tục hóa, vô thần..., người ta có thể hỏi: “Lần hạt Mân Côi và hảm mình đền tội có nghĩa gì? Có ích gì?”.

-   Trước tiên, sứ điệp Fatima, khi kêu gọi cầu nguyện, ăn năn trở lại, hy sinh hãm mình, không chối bỏ sự quan trọng của những công việc trong lãnh vực văn hóa, chính trị, xã hội, ngoại giao, khoa học… Tuy nhiênnếu muốn đi tới tận nguồn căn nguyên của các vấn đề thì phải đi vào lòng ngườibị thoái hóa vì tội lỗi. Tin Mừng Thánh Marcô thuật lại câu chuyện người bất toại được bốn người khênh đến xin Chúa chữa lành bệnh. Tuy nhiên, trước khi chữa bệnh bất toại, Chúa đã nói một câu bất ngờ mà họ không nghĩ đến, nhưng lại là căn nguyên của cơn bệnh: “Này con, tội con đã được tha” (Mc 2,5). Chỉ có Chúa mới giải thoát con người khỏi tội lỗi; chỉ có ơn thánh của Chúa mới có khả năng cải hóa và thay đổi lòng người là nguồn gốc của các chương trình, dự án, hành động…

-   Tình liên đới đại đồng: trong thế giới đầy dẫy những dấu hiệu của sự chết, của sự dữ, nhất là hận thù, căm hờn, ích kỷ, tư lợi, dục vọng đang gây ra biết bao tội ác, cần phải làm tăng thêm những dấu hiệu của sự thiện, của tình thương trong thế giới phủ đầy bóng tối của sự chết, sự dữ, nhất là sự hận thù, căm hờn, ích kỷ, tư lợi, dục vọng đang gây ra biết bao tội ác, càng cần được thắp lên ánh sáng của sự thật, sự thiện, công lý và tình thương. Mỗi cử chỉ, hành động của tình yêu được lan toả ra khắp nơi, làm tăng thêm sức mạnh của sự thiện. Tình yêu trong đau khổ là một sức mạnh có khả năng thấm vào lòng và biến đổi con người, gây lên một bầu khí mới.

-   Đền bù tội lỗi phá hủy các thụ tạo là công trình của Chúa và có khi còn xúc phạm trực tiếp đến Chúa.

7.  Kết luận

Sự kiện Fatima đã qua đi trọn vẹn trong năm 1917, cách đây đúng 100 năm. Sứ điệp Fatima như lời mời gọi của Đức Mẹ bùng lên mãnh liệt khắp mọi miền trên thế giới. Sứ điệp Fatima, với lời kêu mời khẩn thiết để hoán cải và đền tội đã lôi kéo con người tới trọng tâm của Tin Mừng. Fatima chắc chắn là cuộc hiện ra mang tính chất tiên tri nhất trong thời hiện đại.Mẹ Fatima là Mẹ Mân Côi. Mân Côi chính là hoa hồng. Mân Côi là bông hồng đẹp, viên ngọc quí. Bằng chuỗi Mân Côi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền. Bằng cuộc sống hàng ngày, mỗi kitô hữu kết dệt nên những bông hoa thiêng liêng dâng kính Mẹ. Với ơn Mẹ, cuộc sống mọi người sẽ toả hương khoe sắc nhân đức và mang đến cho đời Hòa bình và bình an. Xin Mẹ chúc lành cho đời sống chúng con.

 

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

 

Vì sao bút chì có cục tẩy?

Câu trả lời thật rõ ràng: để xóa đi những chữ viết sai, viết chưa đẹp hoặc để xóa hoàn toàn một đoạn văn nào đó!

Khi một đứa trẻ mới vào lớp một, cô giáo không cho chúng viết bằng bút bi mà viết bằng bút chì. Bởi vì, bàn tay yếu ớt của các bé nhất định sẽ có lúc viết những nét nghuệch ngoặc, sai từ này đến từ khác. Và khi đó, bé sẽ dùng tẩy để xóa đi những chữ viết chưa đúng, chưa đẹp của mình.

Chúng ta cũng vậy, không ai sinh ra đã có thể viết lên những bài ca cuộc đời một cách hoàn chỉnh! Không ai có thể trưởng thành mà chưa một lầm vấp ngã hay mắc sai lầm! Vì thế, trong cuộc sống này, chúng ta cũng cần có một cục tẩy cho riêng mình. Cục tẩy giúp xóa đi những sai lầm vấp váp của chính bản thân. Có lúc chúng ta không dùng đến cục tẩy đó khiến cho những trang giấy cuộc đời nhem nhuốc bởi những dòng gạch và xóa.

Cần biết chấp nhận sai lầm như một điều tự nhiên trong cuộc sống. Cục tẩy là để xóa đi những chữ viết chưa được tròn trịa, chưa được chính xác. Cục tẩy phải mòn dần theo năm tháng, nếu nó cứ mới mãi như ngày xuất xưởng sẽ không ý nghĩa gì cả. Không sử dụng cục tẩy, cuộc đời của chúng ta sẽ chi chít những vết gạch xóa sau những lần mắc sai lầm. Một tờ giấy như vậy có đẹp đẽ gì không? Hãy để cuộc đời là một tờ giấy được viết nên bởi những trải nghiệm, những thử thách, những quyết tâm và cả lòng bao dung tha thứ nữa.

Bút chì có cục tẩy cũng giống như đời sống con người cần có Bí tích Hòa Giải. Thánh Gioan Tông đồ viết: “Nếu ai nói rằng mình không có tội, thì người đó tự lừa dối mình” (1Ga 1,8). Bao lâu còn tồn tại trong thân xác là bấy lâu người ta còn sống trong tội lỗi. Điều này giúp mỗi người ý thức thân phận tội lỗi của mình để luôn khao khát tìm kiếm lòng thương xót của Thiên Chúa.

Mùa Chay và Tuần Thánh, các Giáo xứ nhộn nhịp bầu khí đạo đức: tĩnh tâm, giải tội.

Qua trung gian Linh mục, hối nhân gặp được trái tim đầy thương xót của Thiên Chúa.

Khi được Thánh Tẩy, chúng ta đã trở nên tạo vật mới nhưng bản chất con người vốn yếu đuối thường hay sa ngã nên cần được phục hồi qua Bí tích Hòa Giải (x.1Cr 6,11; 1Ga 1,8). Nhờ đó, hối nhân được giao hòa với Thiên Chúa và Hội Thánh.

1. Hiệu quả của Bí Tích Hòa Giải

- Xưng tội là để được tha tội, nhằm giao hòa với Thiên Chúa và anh chị em. Tội lỗi nào cũng là một vết thương, một sự cắt đứt mối giao hảo nối liền chúng ta với Thiên Chúa và anh chị em. Tội trước hết là xúc phạm tới Thiên Chúa, là đoạn tuyệt với Người, đồng thời cũng làm tổn thương sự hiệp thông với Hội Thánh. Cao điểm của bí tích này chính là để giao hòa, gặp gỡ Thiên Chúa và người đồng loại. Được sạch tội là tạo điều kiện cho sự gặp gỡ thân mật ấy. Chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội cho con người, và quyền ấy cũng được Chúa Kitô chuyển giao cho Hội Thánh để nhân danh Người mà tha tội (Ga 20,21.23). Đây là một trong những chân lý quan trọng nhất của Kitô giáo: “Không có tội nào nặng đến nỗi Hội Thánh không thể tha thứ được. ‘Dù có ai gian ác và xấu xa đến đâu… vẫn có thể tin chắc được tha thứ, miễn là chân thành sám hối’. Đức Kitô, Đấng đã chết cho mọi người, muốn rằng: mọi cánh cửa tha thứ trong Hội Thánh luôn rộng mở cho bất cứ ai ăn năn trở lại” (GLCG #982).

Những thế kỷ đầu, Hội Thánh rất ít ban bí tích này và đòi hối nhân phải chịu một hình thức kỷ luật công khai rất khắt khe. Sang đến thế kỷ VII, với ‘hình thức thống hối riêng tư’mở đường cho việc năng nhận Bí tích Giải Tội. Việc tha tội đặt nền tảng trên hai yếu tố chính là những hành vi thống hối của con người, và tác động tha thứ của Thiên Chúa qua thừa tác vụ của Hội Thánh.

Linh mục vừa là đại diện Chúa Kitô, Đấng giải hoà chúng ta với Thiên Chúa; vừa là đại diện Hội Thánh để tha thứ tội lỗi và đón nhận chúng ta trở lại với cộng đồng. Hối nhân cần trung thực cởi mở cõi lòng với linh mục, và cũng nên biết rằng mình đang đối thoại với một tội nhân khác. Linh mục cũng là người, nghĩa là cũng được Chúa Kitô tha tội như những người khác. Vì thế với đức tin, chúng ta nhìn nhận linh mục trong toà giải tội như vị đại diện Chúa Kitô, nhưng cũng như một người anh em và là bạn hữu của các tội nhân.

- Bí tích Hòa Giải còn ban ơn trợ giúp hối nhân vượt thắng tội lỗi. Do đó, dù khi chỉ phạm tội nhẹ, chúng ta cũng cần đến bí tích này để lãnh nhận ơn trợ giúp của Chúa.

“Bí tích Thống Hối phục hồi chúng ta trong ơn nghĩa Chúa và liên kết chúng ta với Người trong tình bằng hữu thắm thiết và cao cả’. Mục đích và hiệu quả của bí tích này là giao hòa hối nhân với Thiên Chúa. Ai lãnh nhận Bí tích Giao Hòa với lòng thống hối và đạo đức, lương tâm ‘sẽ bình an thư thái, được an ủi thiêng liêng”. Bí tích Giao Hòa thực hiện một ‘cuộc phục sinh thiêng liêng’ đích thực, hoàn lại phẩm giá và những đặc quyền của đời sống con cái Thiên Chúa, nhất là tình bằng hữu với Người” (GLCG #1468)

2. Diễn tiến Giao hoà

- Xét mình là nhìn lại đời sống của mình trong ba tương quan (3 bổn phận) với Thiên Chúa, với anh chị em đồng loại và với chính bản thân mình. Không thể giao hòa cùng Thiên Chúa và Hội Thánh mà trước đó lại không chịu nhìn nhận tội lỗi của mình.

- Lòng thống hối ăn năn rất cần thiết để nhận được ơn tha tội. Bí tích Giải Tội chỉ có hiệu lực đối với những ai thực tình thống hối tội lỗi của mình và quyết tâm hối cải những tội mình đã phạm và chiến đấu chống trả tội lỗi. Thói quen thống hối thường hay đọc kèm kinh Thú Nhận, kinh Ăn năn tội.

- Xưng tội vừa có ý nghĩa nhận biết tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, và đồng thời thú nhận tất cả tội lỗi của mình. Toà giải tội không phải là diễn đàn để khoe mình, cũng không phải là ‘toà án’ để tự biện hộ cho mình hay cáo tội người khác. Đơn sơ và khiêm tốn trình bày những lỗi lầm của mình, cả về số lần phạm tội, để linh mục, thầy thuốc tâm hồn, có thể khuyên bảo cách thích hợp và hữu ích. Không thể khuyên bảo cùng một cách cho những người nhiều năm không giữ đạo, giống với những người vẫn Xưng Tội đều đặn hàng tháng; vì làm như vậy, ơn trở lại của họ bị giới hạn rất nhiều.

Tác vụ Giải Tội rất cao trọng đòi hỏi cha giải tội phải tôn trọng và tế nhị đối với người xưng tội. Nhân danh Chúa Kitô, linh mục đón nhận hối nhân, chuyển đạt cho họ tình thương của Chúa Cha, và nghe họ thố lộ những bí mật của lương tâm. Giáo Luật điều 983 $1 buộc nhặt linh mục , khi giải tội, phải giữ kín tuyệt đối những gì mà hối nhân đã xưng thú. Đây là ‘ấn tín bí tích’, vì tất cả những gì hối nhân xưng thú đều được bí tích ‘niêm ấn’. Bí mật tòa giải tội không chấp nhận một luật trừ nào, cho nên ai vi phạm sẽ mắc vạ nặng nề (GLCG # 1467).

- Xá giải là tháo cởi, giải thoát tội nhân khỏi những xiềng xích ràng buộc của tội lỗi. Nhờ ơn Thiên Chúa, xá giải là sự tha thứ trọn vẹn các tội được xưng thú và thiếu sót không cố ý. Linh mục giơ tay hoặc đặt tay trên đầu hối nhân và đọc lời xá giải (giơ tay là một cử chỉ biến thể của nghi thức đặt tay vì tha tội cũng là ơn của Thánh Thần). Hối nhân quỳ hay đứng cúi đầu, im lặng lắng nghe lời xá giải và thưa : “Amen”, chứ không phải là đọc kinh Ăn năn tội (sám hối là việc phải làm trước khi vào tòa xưng tội). Lời xá giải là lời cầu khẩn hơn là một án lệnh.

- Đền tội là tạ ơn lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa. Tất cả phạm nhân bị toà án phân xử đều phải nhận một hình phạt tương xứng với tội của họ. Trong Bí tích Giải tội, việc này không nhằm đền tội đã phạm cho bằng giúp hối nhân tạ ơn và quyết tâm sống cuộc đời mới, giúp cải thiện tương quan với tha nhân vì ‘tình yêu có thể che lấp mọi tội lỗi’ (1Pr 4,8).

3. Nghi thức Giao hòa

Sách nghi thức Bí tích Hòa Giải có nhiều mẫu nghi thức :

- Nghi thức Giao Hòa từng hối nhân bao gồm cả phần đón tiếp hối nhân, đọc Lời Chúa (hối nhân nghe hoặc tự đọc), hướng dẫn cầu nguyện, xét mình, xưng tội, lời khuyên của linh mục, nhận việc đền tội, cầu nguyện xin ơn tha thứ, linh mục xá giải, lời nguyện tạ ơn trước khi ra về. Nếu có nhiều người lãnh nhận cùng lúc, có thể đọc chung cho nhiều người, tuy nhiên việc đọc Kinh Thánh này cũng không bắt buộc, và tùy nghi đơn giản các diễn tiến.

- Nghi thức Giao Hòa nhiều hối nhân nhưng xưng tội và giải tội từng người để nhấn mạnh tính cộng đoàn vì sự liên đới trong tội của nhiều người. Tội không chỉ là hành vi cá nhân mà nhiều khi còn là hệ quả của sự đồng lõa nên cũng cần giúp nhau sám hối.

“Bí tích Giải Tội có thể được cử hành cộng đoàn : tất cả cùng chuẩn bị xưng tội và cùng nhau cảm tạ vì được ơn tha thứ. Lúc đó việc xưng tội và giải tội cá nhân được tiến hành trong một cử hành Lời Chúa, với việc đọc Sách Thánh và diễn giảng, cộng đoàn được hướng dẫn xét mình ; xin ơn tha thứ, đọc kinh Lạy Cha và cùng tạ ơn. Hình thức này diễn tả rõ nét hơn tính Hội Thánh của việc thống hối” (GLCG #1482).

- Nghi thức Giao Hòa nhiều hối nhân nhưng thú tội và giải tội chung, còn gọi là Giải Tội tập thể. Trong trường hợp nguy tử hay thật khẩn thiết về điều kiện thời gian và hoàn cảnh, linh mục có thể cử hành Bí tích Giải Tội tập thể, nghĩa là xưng tội chung và tha tội chung, nhưng đòi buộc phải xưng lại những tội trọng khi có dịp xưng tội riêng.

- Nghi thức thống hối cộng đồng mà không Xưng Tội nhằm gợi lên tinh thần sám hối để dọn mình Xưng Tội vào một dịp thuận tiện khác.

Sám hối là tâm tình luôn phải có của giới luật mến Chúa yêu người. Đặc biệt mỗi tối trước khi ngủ nên đọc kinh tối, xét mình và xin Chúa thứ tha mọi tội lỗi trong tư tưởng, lời nói và hành động.

4. Cuộc gặp gỡ kỳ diệu làm nên hạnh phúc

Trong Bí Tích Hòa Giải, Chúa và con người gặp nhau cách kỳ diệu nhiệm mầu. Người ta ra về với một trời mới, đất mới. Cỏ cây xanh tươi. Nắng chan hoà ấm cúng trong lòng người. Và đó là hạnh phúc. Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng: mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ tòa giải tội bước ra.

Khi còn bé, Washington rất thích trồng cây. Có lần Washington đã nhổ một cây quý của ba đem đi trồng chỗ khác. Khi về đến nhà, ba của ông rất tức giận. Washington đã can đảm vào xin lỗi ba. Thấy con xin lỗi, ba của ông đã ôm con vào lòng và nói: “Tất cả tài sản của ba không quý bằng lòng thành thật nhận lỗi của con”. Washington biết nhận lỗi và can đảm xin lỗi tức là thú tội của mình với ba. Khi nhận lỗi Washington không bị phạt mà còn được ba yêu thương hơn. Sau này Washington trở thành vị tổng thống nổi tiếng của nước Mỹ.

Bút chì cần cục tẩy, mỗi người cần Bí Tích Hòa Giải. Mỗi lần được tẩy xóa tội lỗi chúng ta lại có một mùa xuân thiêng liêng mới đang nở trong lòng nhờ được chìm sâu trong Trái Tim Nhân Lành của Thiên Chúa Tình Yêu. “Anh chị em hãy cùng hướng về trái tim Đức Kitô, dấu chứng hùng hồn của lòng thương xót Thiên Chúa, “của lễ đền tội chúng ta”, “niềm bình an và hòa giải của chúng ta”, hầu kín múc nơi đó sức mạnh nội tâm dẫn đưa chúng ta ra khỏi tội lỗi và quy hướng chúng ta về Thiên Chúa, đồng thời tìm thấy nơi đó lòng nhân ái của Thiên Chúa như lời đáp trả thân tình cho hối nhân” (Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Hòa giải và Sám hối, số 28).

 

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

5th Sunday in Ordinary Time A: Share Your Bread

“Let your light shine before others” (Mt 5:16)

In the midst of a recent arctic freeze in Minnesota, I sent out a tweet: “Best part of a #polarvortex is ability to be in a warm house and to cozy up and enjoy time with the family. Pray for those who are not warm.” Someone, known on Twitter as @RiskyLiberal, read my tweet and found it lacking: “Don’t pray for them—HELP them! Take some blankets, winter coats, MONEY to your local shelter TODAY.”

CN 5 TN A: Salt of the Earth and Light of the World (Gospel)

What is the greatest hindrance to Christianity in our country? This is a question that is bound to elicit a variety of answers depending on whom you ask. Possible answers would include: the mass media, popular culture, materialism, bad government policies, other religions, etc. A missionary had the occasion to put this very question to the great Mahatma Gandhi, “What is the greatest hindrance to Christianity in India?” His answer was swift and decisive: “Christians.” It is said that the world would be a more Christian place today were it not for the Christians. The Christians that constitute a hindrance to Christianity are not the real and committed ones, of course, but those who bear the name Christian but, judging from the way they talk and behave, no one would suspect they have anything to do with Christ.

In today’s gospel Jesus says to his disciples, “You are the light of the world” (Matthew 5:14). But elsewhere in John 8:12 Jesus says of himself, “I am the light of the world.” Who then is the light of the world, Jesus or his followers? This apparent contradiction is resolved by another passage in John 9:5 where Jesus modifies the statement about himself: “As long as I am in the world, I am the light of the world.” This shows that Jesus is talking about the flesh and blood embodiment of the light. As long as he is physically present in the world he is the light of the world, but when he is no longer physically present his followers now assume the role of being the light of the world.

The role of the Christian in the world is defined by two words in today’s gospel: salt and light. Now what do these mean? Do you know that the word “sugar” never occurs in the Bible? In ancient times salt was the ultimate seasoning that gave taste to food. Without salt food would be tasteless. Jesus is saying that as salt (or sugar, if you like) is to food, so are Christians to the world. Christians are in the world to make it a sweeter place. How can we make the world a sweeter place? We find the answer in the parallel passage in Mark: “Have salt in yourselves, and be at peace with one another” (Mark 9:50).

As salt we are called to be sweet disciples, friendly and kind, living at peace with everybody. As light we are called to show the way. Without light we bump into each another and fall into the ditch. But light says: “Here is the road, take it; here is danger, avoid it.” Without light and salt the world would be in a very bad shape, uninteresting and impossible to live in. With light and salt the world becomes a safer and better place. It is our duty as Christians to make the world a better place.

But how do we do that? The same way that salt and light do it. First, salt must be different from the food before it can be of use. If salt loses its taste then it is useless and can no longer make a difference. Light must be different from darkness in order to be of help. A flashlight with dead batteries is no good for someone in the dark. So being salt and light of the world means being different from the world. If believers have nothing that distinguishes them from unbelievers, then they are like salt that has lost its saltiness and therefore cannot make a difference. And what distinguishes us from non-believers should be not so much what we claim to be or the badges and pins we wear but the life we live. As Jesus says in John 13:35, “By this everyone will know that you are my disciples, if you have love for one another.” Love is the distinctive mark by which you can tell the true Christian from the false.

Secondly, both salt and light operate by associating with the thing that they want to change. Salt cannot improve the food unless it goes into the food and changes it from within. Light cannot show the way unless it encounters the darkness. Sometimes Christians think that the way to go is to keep away from getting involved with society and popular culture. But by shying away from the realities of our society and our world we might indeed be hiding our lamp under the bushel basket. To make a difference we must get up and get involved.

Today’s gospel is frightening. It says, in effect, that if there is so much darkness and bitterness in the world today it is because we as Christians have failed in our job to be salt and light in the world. But we can decide to make a difference starting from today. We can decide to light a candle rather than curse the darkness. Even the smallest candle helps in a world of darkness.

 

By Fr Munachi E. Ezeogu, cssp

CN 4 TN A: Homily for the Presentation of the Lord: Like Parents, Like Children

A scholar was conducting a study of an Amish village. The Amish are a branch of the Mennonite church who live in traditional rural villages far from industrialization and technology: no computers, televisions, refrigerators and telephones. In his study of the Amish village school, the researcher noticed that Amish children never screamed or yelled.

CN 5 TN A: Not with Apologetics but with Testimonies (Epistle)

A certain man who used to live a life of gambling and drinking got converted to Christ. His workmates, who used to hang out with him, tried to tease him. "Surely a sensible man like you cannot believe in the miracles that the Bible tells about. You cannot, for instance, believe that this Jesus of yours turned water into wine." The man’s reply was, "Whether he turned water into wine or not I do not know, but in my own house I have seen him turn beer into furniture." The strongest argument in defence of the Christian faith can be made not in so many words but by showing the practical difference faith makes in people’s lives. No one can argue against the proof of a changed life.

In today’s 2nd reading Paul recalls his ministry among the Corinthians. “My speech and my proclamation were not with plausible words of wisdom, but with a demonstration of the Spirit and of power” (1 Corinthians 2:4). As a Jewish rabbi, Paul had been trained in the art of making religious speeches and debates. His skill in public speaking can be seen in his presentation of the faith to the learned society of Athens gathered in the Areopagus (Acts 17). There, Paul, in a very creative manner, broke down the Christian faith in philosophical terms in order to impress his learned audience. But the result he achieved was disappointing. His sophisticated and logical presentation of the faith could not convince his audience. Instead, they made fun of him and said “We will hear you again about this” (Acts 17:32). Paul must have resolved and said to himself, “Never again!”

After this Paul left Athens and went to Corinth” (Acts 18:1). Paul did not come to Corinth “proclaiming the mystery of God ... in lofty words or wisdom” (1 Corinthians 2:1) as he had tried to do in Athens. Instead he kept to simply telling the story of Jesus Christ, and him crucified (verse 2). The crucified Lord whom Paul did not mention even once in his speech to the philosophers in Athens now becomes the central theme of Paul’s preaching. He stopped preaching about something and began preaching about someone.

What happens when we lift Jesus up in our ministry? What happens is that Jesus himself begins to act. Jesus himself said, “When I am lifted up ... I will draw all people to myself” (John 12:32). This is what happened with Paul in Corinth. Because he lifted Jesus up in his preaching, Jesus began to draw all people to himself. Jesus began to move mightily among the people of Corinth such that the people of Corinth came to believe not on account of Paul’s eloquence but on the strength of the power of the living God moving in their midst and acting in their lives. As Paul says, he adopted a Christ-centred way of presenting the faith in Corinth “so that your faith might rest not on human wisdom but on the power of God” (1 Corinthians 2:5). Paul’s ministry in Corinth became a resounding success, as opposed to his ministry in Athens.

Have you ever tried to share your faith with someone? How did you go about it? Did you go about it by trying to convince them that your beliefs are correct and theirs wrong? Such a logical defence of the faith is called apologetics. Apologetics is sometimes necessary in presenting the faith, especially to those who attack the faith with intellectual arguments. It often reassures the believer but does not always convert the unbeliever. A more effective way of presenting the faith is to tell the simple story of Jesus dying for us and to share your story of the amazing blessings that faith has brought into your life. This is called giving testimony or bearing witness.

What Paul is sharing with us today is that giving personal testimony or telling our own stories of what Jesus means for us in our lives is a more effective way of sharing the faith with others than bookish arguments. Everyone can tell stories. You do not need a special training to be able to tell your own story of the faith. By nature we are story-tellers. Let us use our story-telling abilities to spread the good news of the kingdom of God as Paul did.

 

By Fr Munachi E. Ezeogu, cssp

CN 4 TN A: Road Map to Happiness

“Happiness is that which all [men] seek.” So says the great philosopher Aristotle. Aristotle also observes that everything people do twenty-four hours a day, seven days a week, is what they believe will bring them happiness in one form or another. But the problem is that what people think will bring them happiness does not in fact always bring them true and lasting happiness.

6th Sunday in Ordinary Time A: Transforming Law

“I have come not to abolish but to fulfill” (Mt 5:17)

Christians in general and Catholics in particular sometimes have an uneasy relationship with the notion of law. This uneasiness can be traced back to Jesus’ own confrontations with Jewish authorities regarding his interpretation of the law of Moses, and later to the Apostle Paul’s antithesis between the law and faith, as seen in Gal 2:16: “yet we know that a person is justified not by the works of the law but through faith in Jesus Christ.”

4th Sunday in Ordinary Time: A Light for All

John W. Martens

Presentation of the Lord (A), Feb. 2, 2014

“For my eyes have seen your salvation” (Lk 2:30)

The Presentation of the Lord places us in the midst of the Law of Moses that governed the sacrifices due for the purification of a mother following the birth of a male child (Lv 12:1–8) and the regulations concerning the consecration of a firstborn male child (Ex 13:1–2, 13, 15). There are in fact no Old Testament rules that insist upon the presentation of the child in the Temple. Rather, the presentation of Jesus in the Temple marks the public recognition and reception of Jesus Christ.

Các bài khác...

  1. CN 3 TN A: Time to Begin

Liên Hệ Tỉnh Dòng Sa-lê-diêng Don Bosco

  • Trụ sở Tỉnh dòng:

54 đường số 5, P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TpHCM - VIỆT NAM 

  • Điện Thoại: (84-8)37-240-473

Style Setting

Fonts

Layouts

Direction

Template Widths

px  %

px  %